Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

New Zealand có gì lại không anh?

 

Mình ở Úc đã lâu mà chưa bao giờ đi New Zealand chỉ vì nghĩ rằng chị em Úc và New giống nhau quá, đâu cần đi. Nhưng đến New rồi mới thấy mảnh đất cơ man nào sông hồ, núi non hùng vĩ thơ mộng, không nơi nào có được, lại tiếc sao không đi sớm.
Điều kỳ lạ là mảnh đất rộng gần bằng lãnh thổ Việt Nam này lại là nơi con người tìm đến cuối cùng, vào khoảng năm 1200-1300, tức là mới hơn 700 năm!
Tương truyền cặp uyên ương Kupe và Kuramarotini, giống như Lạc Long Quân và Âu Cơ đã đặt chân đầu tiên đến vùng đến phía Nam xa xôi, khí hậu lạnh. Sau một đêm, Kura tỉnh giấc và nhìn thấy một dải mây trắng kéo dài trên chân trời.
Chiều ý vợ, Kupe đặt tên lãnh thổ đảo Bắc và đảo Nam là Aotearoa, theo tiếng Maori nghĩa là vùng đất mây trắng dài. Về sau người da trắng mới gọi đây là New Zealand.
Kupe và Kuramarotini say sưa với vẻ đẹp hoang dã, nơi có nhiều rừng rậm, nhiều loài chim kỳ lạ hòa tiếng hót với những dòng suối róc rách. Kura không sinh ra một trăm con như Âu Cơ mà chỉ có được 4 đứa con xinh xắn.
Sau khoảng 10 năm, họ trở về cố hương để kể lại câu chuyện thần tiên và hậu quả là từng đoàn người Hawiki, với sự hướng dẫn của Kupe đã lũ lượt đi tìm về miền đất hứa, xây dựng nên một xã hội phồn hoa ở phía Nam xa xôi của Thái Bình dương.
Vì sao Kupe và Kura lại tìm ra Aotearoa? Theo tương truyền, chàng trai tài ba Kupe con nhà nghèo mà Kura xinh đẹp lại con tù trưởng nên bị gia đình cấm đoán. Để có nhau, họ phải ra đi thật xa. Cũng có khảo dị cho rằng, Kupe vì đuổi theo con bạch tuộc hung ác Te Wheke mà lạc lối đến xứ sở mới.
Khoa học ghi nhận Kupe là một nhân vật có thật trong lịch sử, một số địa danh chung quanh Welington vẫn mang dấu ấn mở đường của ông.
Trở lại chuyến “tuần trăng mật” mười ngày của vợ chồng tụi mình, trải dài cả đảo Nam và đảo Bắc, đến với Queentown, Milford Sound, Glenorchy, Arrowtown, Rotorua, Tawharanui, Auckland...có gì lạ không?
Có nhiều chứ, trước hết là cảnh đẹp tuyệt trần, là màu xanh ngọc bích của hồ và xanh thẳm của núi. Người Maori không quan niệm bạn là người tỉnh nào hay huyện nào mà là bạn từ ngọn núi, con sông nào? Bởi vì sông, suối, núi lửa, núi tuyết...đều có tâm linh gắn bó với tâm hồn mỗi con người.
Đất nước gọi là kiwi mà mình và bà xã không được ăn trái kiwwi nào vì không đúng mùa, kể cả chim kiwi cũng không thấy, nghe nói loài chim này còn rất ít. Loài thú biểu tượng của New Zealand bây giờ có lẽ là cừu khi số cừu 25 triệu gấp 5 lần dân số con người.
Buồn cười cừu ở New bé xíu chứ không bự con như cừu Úc, bà xã mình bảo chỉ bằng phân nửa. Bò cũng bé như bò Việt Nam. Người cũng vậy, khá nhỏ nhắn mặc dù theo số liệu thống kê thì cũng ngang ngang với người Úc. Đặc biệt người Maori cũng không đồ sộ như “dân đảo” mà mọi người vẫn gặp.
Nữa, chim của New cũng bé, không giống như chim bên Úc. À quên, trước khi đi mình coi thông tin du lịch thì người ta khuyên không nên so sánh người New với người Úc, chắc cũng giống như so bì người Tàu với người Việt là một cách nói không lịch sự.
Đồ ăn bên New cực ngon dù là burger, đồ biển, thịt bò, cừu...giá phải chăng. Táo bé thôi nhưng cứng, giòn, thơm. Cherri loại vàng không to như cherri Tasmania nhưng ngọt thanh tao rất thích. Cửa tiệm kem nhan nhản và rất ngon.
Người Việt bên New chỉ có khoảng 10,000 người. Các bác từ thời vượt biên bằng thuyền hầu như đã tái định cử ở Úc hoặc các nước nên người hiện nay chủ yếu có nguồn gốc “Việt Cộng”. Nhà hàng Saigon kingdom bên bở hồ Wakatipu rất nổi tiếng ở Queentown. Tụi mình được trò chuyện ấm áp thân tình với một đồng bào là chủ nhân hàng thực phẩm Á Châu tại Manukua, ngoại ô Auckland.
Ấn tượng nhất là chuyến đi thăm làng người Maori ở Rotorua. Đến nơi bạn sẽ kinh ngạc với mùi trứng thối của lưu huỳnh phun lên thành khói nghi ngút từ các ngọn núi lửa vãn đang hoạt động âm ỉ. Văn hóa Maori thực sự đặc sắc thể hiện qua màn trình diễn âm nhạc điêu luyện. Văn hóa Việt Nam có đặc sắc không? Theo mình là không, hoặc nếu có thì cũng không còn lưu truyền được gì. Tuy nhiên, những ngôi nhà của người Maori khi xưa còn nhỏ và xiêu vẹo hơn cả nhà tranh vách đất của dân ta. (ảnh)
Một kinh nghiệm khi thuê xe. Xe của mình thuê gần như mới tinh, mới chạy 3000 cây nhưng khi chạy từ Auckland đi Rotorua đến tốc độ khoảng 90km/ giờ trở lên thì cứ thấy tay lái tun bần bật, bồng bềnh. Khi xem lại tên xe Cherry thì mới hóa ra đây là xe của Trung Quốc. Đúng là hú vía với hàng Tàu.
Khi tụi mình đến Arrowtown thì đã đi thăm bảo tàng và khu định cư của người Tàu sang đào vàng từ gần 200 năm trước. Nhưng ngôi nhà hết sức đơn sơ, có nhà xây từ một cái hang đá, chỉ là thêm cánh của bằng gỗ. (trong ảnh)
Theo giới thiệu, một người thợ đào vàng từ Trung quốc có thể kiếm được trung bình NZD 77/năm, chi tiêu 1/3 và tiết kiệm 2/3. Vào lúc đó ở quê nhà Quảng Đông thì mức thu nhập chỉ vào khoảng 10-12 đô New/năm vì thể mọi người đổ xô sang.
Câu hỏi là tại sao sau khi chiếm được Aotearoa, người Maori không đi bước nữa sang Lục địa Úc mênh mông, trong khi bờ đông đất đai màu mỡ chỉ cách eo biển Tasman không xa? Ngược lại, Thổ dân Úc đã đến Úc trên 60,000 năm sao không phát hiện ra New Zealand mà phải chờ người Maori ? Đây là những bí ẩn của lịch sử.

So sánh các cuộc thay đổi ở nhiều nước với cuộc nổi dậy ở Iran

 

(lần thứ hai nhờ chat GPT viết bài)
Trong thế kỷ 21, làn sóng biểu tình, nổi dậy và thay đổi chính trị đã diễn ra ở nhiều quốc gia trải dài từ Trung Đông–Bắc Phi đến Nam Á, châu Phi và Mỹ Latin. Mỗi cuộc chuyển động đều phản ánh bối cảnh riêng biệt, nhưng khi đặt cạnh cuộc nổi dậy ở Iran, ta thấy những khác biệt sâu sắc về nguyên nhân, bản chất và kết quả.
Trước hết, hầu hết các cuộc nổi dậy ở Iraq, Tunisia, Ai Cập, Yemen, Libya và Syria đều thuộc làn sóng Mùa xuân Ả Rập diễn ra từ cuối 2010 đến 2012. Đây là một phong trào rộng lớn phản đối tham nhũng, thất nghiệp, quyền lực tập trung và độc tài trong các nước Ả Rập. Ở Tunisia, cuộc khởi động nổi tiếng nhất bắt đầu từ việc Mohamed Bouazizi tự thiêu để phản đối cảnh sát và sự bất công, dẫn tới việc Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali sụp đổ chỉ sau vài tuần biểu tình lớn ở cả nước. Tunisia được coi là trường hợp “thành công tương đối”, chuyển đổi sang thể chế có nhiều cạnh tranh hơn – dù sau đó vẫn còn nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội. 
Tại Ai Cập, phong trào cách mạng 2011 nhanh chóng lật đổ Tổng thống Hosni Mubarak sau hàng thập kỷ cai trị, nhưng sau đó đất nước rơi vào giai đoạn bất ổn và cuối cùng quân đội lại nắm quyền dưới sự chỉ huy của Abdel Fattah el-Sissi.  Libya thì rơi vào nội chiến kéo dài sau khi Gaddafi bị lật đổ, trở thành một quốc gia bị chia rẽ nhiều phe phái vũ trang và sự can thiệp nước ngoài.  Yemen đối mặt chiến tranh toàn diện giữa lực lượng chính phủ và các nhóm vũ trang, gây ra cuộc khủng hoảng nhân đạo sâu sắc nhất thế giới.  Syria biến cuộc nổi dậy thành nội chiến kéo dài hơn một thập kỷ trước khi chế độ al-Assad duy trì quyền lực với sự hỗ trợ của các lực lượng bên ngoài. 
Ở Iraq, các cuộc biểu tình từ 2018–2021 và trước đó từ 2011 phản ánh sự bất mãn lâu dài với tham nhũng, dịch vụ kém, việc làm thiếu và hệ thống phân bổ quyền lực theo cộng đồng – mô hình muhasasa – khiến nhiều người dân yêu cầu cải cách sâu rộng. Các cuộc biểu tình khiến chính phủ từ chức và buộc tổ chức bầu cử sớm, nhưng hệ thống chính trị cơ bản vẫn tồn tại với sự chi phối của các phe phái và ảnh hưởng ngoại quốc, đặc biệt từ Iran. 
Trong khi đó, Bangladesh và Nepal đại diện cho làn sóng phản kháng Gen Z / thanh niên toàn cầu trong thập niên 2020. Phong trào Monsoon Uprising ở Bangladesh năm 2024 phản ánh sự không hài lòng sâu rộng với tham nhũng, bất bình đẳng và các hạn chế đối với quyền tự do, được củng cố qua các công cụ mạng xã hội trong việc xây dựng bản sắc tập thể.  Tại Nepal, các cuộc biểu tình tương tự vào năm 2025, do chính thanh niên dẫn dắt, đã buộc Thủ tướng từ chức và dẫn đến việc thay đổi thể chế nhà nước, với quyền lực thay vì tập trung ở một cá nhân hay một đảng cầm quyền đã bị buộc phải nhượng bộ, dù còn nhiều thách thức về đường hướng xây dựng chính phủ mới. 
Ở Madagascar, sự nổi dậy năm 2025 cũng do thanh niên dẫn dắt, bắt nguồn từ các vấn đề cơ bản như cắt điện, thiếu nước, tham nhũng và nghèo đói, phản ánh một dạng nổi dậy mới ở châu Phi, kết hợp giữa đòi hỏi quyền lợi kinh tế và thay đổi chính trị. Phản ứng dữ dội đã khiến tổng thống giải tán chính phủ và thậm chí dẫn tới một cuộc đảo chính ủng hộ phong trào, đánh dấu bước ngoặt lớn trong đời sống chính trị quốc gia này. 
Venezuela có bối cảnh khác xa. Các lần khủng hoảng và biểu tình của người dân nước này, như vụ Caracazo năm 1989 hay những đợt biểu tình từ thập niên 2010, chủ yếu phản đối tình trạng kinh tế tồi tệ, lạm phát cao và khủng hoảng sinh kế. Những cuộc biểu tình này thường bị đàn áp và không dẫn tới thay đổi chế độ ngay lập tức, mà đẩy đất nước vào vòng xoáy khủng hoảng kéo dài. 
Trong khi đó, cuộc nổi dậy ở Iran, kể cả đợt mới nhất vào cuối năm 2025, có điểm khác biệt cơ bản. Những phong trào này bắt nguồn từ sự phẫn nộ sâu sắc đối với mô hình cai trị của Cộng hòa Hồi giáo, không chỉ do các vấn đề kinh tế như lạm phát cao, khủng hoảng tiền tệ, mà còn do những giới hạn đối với quyền tự do cá nhân và xã hội dưới hệ thống lãnh đạo tôn giáo chuyên chế.  Cuộc nổi dậy này không chỉ đòi hỏi sự thay đổi chính trị tức thời, mà đòi hỏi chấn chỉnh toàn bộ hệ thống thể chế chính trị và từng tầng lớp quyền lực, điều khác với các cuộc nổi dậy đòi thay đổi chính phủ hay chính sách trước đó ở nhiều nơi.
Tóm lại, dù tất cả những phong trào nêu trên đều phản ánh sự bất mãn với quyền lực tập trung, tham nhũng và thất bại về kinh tế–xã hội, thì cuộc nổi dậy ở Iran phân biệt ở bản chất có tính hệ thống sâu hơn: nó thách thức ý thức hệ và bộ máy quyền lực của một chế độ tôn giáo – chính trị bền vững. Các phong trào ở Arab Spring hay Gen Z khu vực khác thường nhắm vào một vị lãnh đạo cụ thể hoặc cấu trúc thể chế thực thi quyền lực, và nhiều nơi đã trải qua biến chuyển nhanh hơn (dù không phải luôn có kết quả tích cực dài hạn). Trong khi đó, phong trào Iran phản ánh một mặt trận rộng hơn, cả về xã hội, kinh tế và tư tưởng, dẫn đến những xung đột kéo dài và khó lường hơn nhiều so với các ví dụ khác.
Lời bàn: nếu Mỹ phải can thiệp vào Iran sẽ là một thất bại, chứng tỏ sự bất lực của phong trào quần chúng.

Thế giới sẽ ra sao nếu Mỹ thâu tóm các mỏ dầu ở Venezuela và Iran


Giả sử một buổi sáng đẹp trời, Tổng thống Mỹ thức dậy, uống xong ly cà phê Starbucks size XL, nhìn bản đồ thế giới và nói: “Hay là ta kiểm soát luôn mấy mỏ dầu lớn còn sót lại cho gọn?”
Và thế là, trong một vũ trụ song song rất Hollywood, Mỹ bằng cách nào đó đã “thâu tóm” được các mỏ dầu của Venezuela và Iran – hai quốc gia sở hữu những kho hydrocarbon thuộc hàng lớn nhất hành tinh.
Thế giới lúc này sẽ không nổ tung ngay, nhưng… mọi thứ sẽ rung lên như máy giặt chạy chế độ vắt cực đại.
1. Một cú nắm tay chứa… gần 40% trữ lượng dầu thế giới
Trước hết, nói bằng số liệu cho có vẻ nghiêm túc:
• Venezuela: khoảng 303 tỷ thùng dầu – lớn nhất thế giới (dù phần lớn là dầu nặng, khó khai thác).
• Iran: khoảng 157 tỷ thùng dầu, đứng thứ 4 toàn cầu.
• Mỹ: khoảng 69 tỷ thùng trữ lượng nội địa.
Nếu Mỹ kiểm soát Venezuela + Iran, thì tổng cộng Mỹ sẽ “ngồi” trên hơn 450 tỷ thùng dầu, tức gần 40% trữ lượng đã được xác minh của toàn thế giới.
Nói cách khác:
OPEC biến thành OPE…Oops.
2. Thị trường dầu mỏ: giá rẻ cho Mỹ, ác mộng cho phần còn lại
Trong kịch bản này, Mỹ không cần phải ép giá bằng lời nói. Chỉ cần ho nhẹ một tiếng là thị trường dầu Brent cảm cúm ngay.
• Mỹ có thể bơm thêm 3–5 triệu thùng/ngày từ Venezuela và Iran.
• Giá dầu thế giới có thể bị giữ ở mức 50–60 USD/thùng trong thời gian dài.
Nghe có vẻ tốt cho người tiêu dùng, nhưng lại là thảm họa với các quốc gia sống bằng dầu.
Và đây là lúc Nga và Trung Quốc bắt đầu đổ mồ hôi.
3. Nga: khi “cây ATM quốc gia” bị đá văng khỏi ổ cắm
Với Nga, dầu mỏ và khí đốt không chỉ là năng lượng – đó là ngân sách, lương hưu, quân đội và cả niềm tự hào dân tộc.
Một vài con số đáng chú ý:
• Khoảng 35–40% ngân sách Nga đến từ dầu khí.
• Nga cần giá dầu khoảng 70 USD/thùng để ngân sách cân bằng tương đối.
Nếu giá dầu bị Mỹ “đè” xuống 55 USD:
• Ngân sách Nga hụt hàng chục tỷ USD mỗi năm.
• Đồng ruble yếu đi như tinh thần người Nga khi đội tuyển bóng đá bị loại vòng bảng.
• Các dự án quân sự, hạ tầng bị hoãn, hoặc… đặt tên mỹ miều là “giãn tiến độ”.
Nga khi đó vẫn không sụp đổ, nhưng sẽ rơi vào trạng thái rất quen thuộc:
“Chúng tôi chịu được – nhưng không vui.”
4. Trung Quốc: được xăng rẻ, nhưng mất… đòn bẩy chiến lược
Ngược đời thay, Trung Quốc vừa mừng vừa lo.
Mừng vì:
• Trung Quốc nhập hơn 11 triệu thùng dầu/ngày.
• Giá dầu thấp giúp tiết kiệm hàng chục tỷ USD mỗi năm.
• Chi phí sản xuất giảm, xuất khẩu càng rẻ, càng “đánh” mạnh vào thị trường thế giới.
Nhưng lo vì:
• Trung Quốc phụ thuộc năng lượng bên ngoài.
• Venezuela và Iran từng là nguồn cung chiến lược, giá rẻ giúp Bắc Kinh đa dạng hóa và né ảnh hưởng Mỹ.
Khi Venezuela và Iran nằm trong tay Mỹ, Trung Quốc rơi vào thế:
“Xăng rẻ hơn, nhưng phải mua từ người mà mình không tin.”
Đó là kiểu quan hệ thương mại giống như:
vừa ăn cơm của hàng xóm, vừa khóa cửa phòng ngủ.
5. OPEC: từ câu lạc bộ quyền lực thành nhóm… hoài niệm
Trong kịch bản này, OPEC sẽ trông giống một ban nhạc rock già:
• Vẫn còn tên tuổi.
• Vẫn có fan trung thành.
• Nhưng không còn quyết định được xu hướng.
Saudi Arabia, UAE, Kuwait có thể cố cắt giảm sản lượng, nhưng nếu Mỹ muốn phá giá, thì:
“Cắt bao nhiêu, Mỹ bơm bấy nhiêu.”
OPEC+ khi đó sẽ giống một nhóm chat WhatsApp toàn tin nhắn:
“Anh em cố lên.”
Nhưng không ai biết cố kiểu gì.
6. Mỹ: bá chủ năng lượng kiêm… đạo diễn toàn cầu
Với quyền kiểm soát dầu Iran và Venezuela, Mỹ sẽ có trong tay:
• Đòn bẩy ngoại giao: thưởng dầu cho đồng minh, siết dầu với đối thủ.
• Ổn định giá trong nước: cử tri Mỹ thích xăng rẻ hơn là triết học địa chính trị.
• Sức ép với Nga, Trung Đông, thậm chí châu Phi.
Mỹ khi đó không chỉ là siêu cường quân sự, mà là:
“Người quản lý nhiệt độ kinh tế thế giới.”
Lạnh quá? Bơm thêm dầu.
Nóng quá? Khóa van một chút.
7. Nhưng… cái giá dài hạn không hề rẻ
Hài hước là vậy, nhưng kịch bản này không phải toàn màu hồng:
• Mỹ phải gánh chi phí an ninh khổng lồ ở hai khu vực bất ổn bậc nhất thế giới.
• Chủ nghĩa chống Mỹ toàn cầu tăng mạnh.
• Nga – Trung có thể xích lại gần nhau hơn, tăng tốc chuyển sang:
• Giao dịch phi USD
• Năng lượng hạt nhân, tái tạo
• Liên minh “không thích Mỹ”
Về dài hạn, Mỹ có thể thắng trận dầu, nhưng chưa chắc thắng cuộc chơi chuyển dịch năng lượng.
8. Kết luận: thế giới không sụp đổ, nhưng sẽ… mệt mỏi hơn
Nếu Mỹ thực sự kiểm soát dầu Iran và Venezuela:
• Nga: thắt lưng buộc bụng, nhưng vẫn gồng mình chịu đựng.
• Trung Quốc: hưởng lợi ngắn hạn, mất không gian chiến lược dài hạn.
• Thế giới: xăng rẻ hơn, địa chính trị căng hơn.
• Mỹ: quyền lực lớn hơn, trách nhiệm và áp lực cũng lớn hơn.
Và như mọi bi hài kịch địa chính trị khác, câu hỏi cuối cùng vẫn là:
Ai kiểm soát năng lượng thì chưa chắc kiểm soát được tương lai –
nhưng chắc chắn sẽ khiến hiện tại của người khác... đau đầu.

Tâm sự: Làm người Úc là khó

 

Quý vị đi Úc để làm gì nếu không phải mưu tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn và một tương lai xán lạn hơn cho con cháu. Để có cuộc sống tốt, hạnh phúc thì điều không thể thiếu là phải hội nhập được vào môi trường mới.
Nói đến đây thì mọi người sẽ bảo cái này dễ quá, bởi vì bây giờ cuộc sống ở Việt Nam cũng cao, đầy đủ như ở Úc, hoặc còn hơn, vậy có gì khác biệt đâu. Nhưng mình ở Úc đã đủ lâu để quan sát nhiều mảnh đời, những va đập thách thức trong cuộc sống, không ai giống ai nhưng không thể nói là dễ dàng.
Nhớ có ông sồn sồn mới sang Úc đã phán rằng: người Việt bên này toàn làm neo, đổ bô, những việc linh tinh...”tôi khinh bọn chúng”. Đệt mẹ thằng rồ, nó tưởng ở Việt Nam nó móc túi, cướp giật, lừa đảo có được chút tiền nên lên mặt.
Vì nó điên nên dễ làm mọi người để ý. Mới đây nó khoe đã đi làm, chẳng cần hỏi cũng thừa biết gọi là làm cho vui chứ ngữ này thì được trò trống gì. Làm kiếm $10k/năm, 100k/năm hay 500k là khác nhau một trời một vực. Nhìn cái mặt nhăn nhó như khỉ ăn gừng là hiểu, làm không đủ tiêu cho gia đình, tức vẫn phải móc “thịt” ra ăn, cứ cho là còn rất nhiều “lương khô”.
Những người như thằng cha này rất đông, đại khái là lắm tiền, mang tiền từ Việt Nam sang chứ không kiếm chác được gì từ Úc. Cũng không thiếu những người Việt rất thành công, là Luật sư, bác sĩ, doanh nhân, rồi tham gia vào guồng máy quản trị của đất nước khi giữ các chức vụ trong các đại công ty, tập đoàn lớn, làm Nghị viên, Nghị sĩ, Dân biểu.
Họ đều là người Việt mũi tẹt, da vàng, con rồng cháu Lạc. Có gì khác nhau giữa hai loại người này không? Khác nhau là cái đầu, giữa mạnh mẽ, ý chí, nghị lực và thụ động, lười biếng, chờ đợi; giữa mưu nhiều, nói nhiều với một bên là hành động và hành động quyết liệt.
Không chỉ chuyện người lớn, tụi trẻ cũng vậy. Du học sinh thời 30 năm trước làm nhiều, cỡ 50 giờ/ tuần (như cá nhân mình), còn du học sinh bây giờ làm ít, trung bình 10 giờ/ tuần. Hai con số chênh lệnh đó tất yếu dẫn đến những kết quả rất khác nhau.
Cũng tại hoàn cảnh thôi. Những thành phần mang tiền qua Úc tiêu thì ở Việt Nam họ đã thuộc về đẳng cấp chỉ việc ngồi gãi d. ăn tiền, đâu còn vất vả như tầng lớp công nông; con cái họ được nuông chiều cơm bưng nước rót có bao giờ đụng chân tay việc gì. Những loại như thế mà sang Úc thì rất khó hòa nhập.
Làm người Úc đâu phải chỉ là giấy tờ, dù hết sức gian nan, nó vẫn chỉ là vỏ bề ngoài. Còn về thực chất, phải là tìm được niềm vui trong cuộc sống, trong đó phần quan trọng là việc làm ổn định. Có việc làm, quý vị mới có bạn đồng nghiệp, khách hàng, đối tác làm việc, các mối quan hệ để có thêm trao đổi thông tin kiến thức xã hội, chung vui các sở thích trong cuộc sống. Bằng không, quý vị vẫn tiếp tục chân chưa chạm đất, lơ lửng trên không trung mãi mãi.
Cần hiểu rằng chưa kinh nghiệm, kỹ năng, quan hệ, ai ngu mà đi trả lương cao, vì thế làm ít sẽ không đủ chi tiêu nên phải làm nhiều, chí ít 40 giờ/ tuần. Muốn làm tướng thì phải làm lính, muốn lương cao thì phải chịu thấp một thời gian, không có cách nào đốt cháy giai đoạn được. Khi mức lương được cải thiện, sự lựa chọn sẽ dễ dàng hơn, hoặc giảm giờ làm để có thêm thời gian vui chơi, hoặc giữ nguyên giờ làm thì thêm thu nhập.
Mình là người trong cuộc nên biết cái khó là ủ mưu nhiều quá, lúc nào cũng bồn chồn đứng lên ngồi xuống, đầu óc không yên ổn để làm được việc gì. Để vượt qua khó khăn, lời khuyên là hai chữ resilient (bền bỉ) và consistent (nhất quán).
Rồi quý vị sẽ trở thành người Úc yêu nước Úc và hạnh phúc viên mãn với cuộc sống mới.

Đôi điều nghĩ về vụ xả súng ở bãi biển Bondi

 

Sáu ngày qua đi, mọi người vẫn chưa hết bàng hoàng về vụ xả súng ở bãi biển Bondi. Trong số hàng ngàn bãi biển, Bondi chưa chắc đẹp nhất nhưng chắc nổi tiếng nhất vì nó nằm ngay gần trung tâm Sydney. Mình nghe danh Bondi lần đầu khi sinh viên tụi mình kháo nhau đến đó xem thanh nữ topless, nay các em hở đẹp đã bị cấm vì các gia đình có con nhỏ đến vui chơi đông quá.
Hung thủ Sajid Akram, cái tên rất Ả Rập nhưng lại từ Ấn Độ đến Úc vào cuối thập niên 1990s, lúc 23 tuổi bằng visa du học. Chẳng học hành gì đến nơi chốn, hắn nhanh chóng kết hôn và sinh ra thằng trời đánh Naveed vào năm 2001 rồi hai đứa nữa.
Nước Úc đã cưu mang cha con nhà Akram, nhưng hắn vẫn nuôi lòng thù hận, ít nhất đối với người Úc gốc Do Thái. “Nhàn cư vi bất thiện” vào lúc này cả hai tên đều thất nghiệp, Sajid ly thân với vợ và hai cha con đi thuê nhà trọ ở Campsie.
Thiết nghĩ Sajid là một trường hợp tiêu biểu không hội nhập được vào xã hội. Có thế hiểu hắn không có nhiều thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc gia đình, không tìm được niềm vui, nhận thức được những điều tử tế và vì thế chỉ có bất mãn, tiêu cực. Tai hại hơn, hắn tiêm nọc độc vào thằng con trai đầu lòng, biến nó trở nên cực đoan và cuồng tín.
Theo cảnh sát, hai hung thủ không tính phương án tẩu thoát, có nghĩa là chúng sẵn sàng tử vì đạo, kết quả không ngạc nhiên bố chết, con bị thương. Naeed nay đã tỉnh, đang bị thẩm vấn và sẽ bị truy tố. Úc không có án tử hình nhưng với thằng này thì không thể thấp hơn chung thân được.
Mọi người chê cảnh sát yếu kém đã để hai tên khủng bố bắn súng trong 9 phút, cướp đi mạng sống của 15 người. Lúc đó chỉ có 4 cảnh sát bảo vệ cho Lễ hội, hai nữ và hai nam. Hai cảnh sát nam đều bị trọng thương, cậu cảnh sát trẻ còn mất một mắt.
Rồi lại thắc mắc tại sao lại cho tư nhân được sở hữu súng? Để tranh biện, mình cho rằng ở các nước dân chủ ngân sách dành cho y tế, giáo dục, phúc lợi chiếm tỉ trọng tuyệt đối nên không còn tiền nuôi cảnh sát. Bạn nào sang Úc thì có khi cả tháng không nhìn thấy cảnh sát vì họ rất ít. Tội phạm thì bằng cách này hay cách khác luôn có vũ khí. Và để tự bảo vệ, người dân cần phải có súng.
Trong hơn ngàn người dự Lễ hội, nếu ai đó mang theo vũ khí thì chắc chắn sự việc sẽ được dập tắt nhanh hơn. Dù tay không, có 4 người đã dũng cảm tấn công hung thủ có súng. Ba trong số đó đã không còn nữa, người còn lại bị thương, anh Ahmed Al Ahmed.
Khi Sajid đang hành sự bắn giết người thì Ahmed đã xông ra cướp được súng của hắn, ít nhất đã làm gián đoạn thời gian và cứu sống được một số mạng người. Đích thân Thủ tướng Albanese đến thăm Ahmed trong bệnh viện, ngoài việc được tuyên dương về hành động dũng cảm, anh còn được tặng 2.5 triệu Úc kim từ quỹ quyên góp từ những người hảo tâm.
Một điều rất hay, Ahmed là một người Hồi giáo Ả Rập lại đi cứu giúp người Do Thái. Điều đó mang lại ý nghĩa cao đẹp của xã hội nước Úc, hàn gắn sự chia rẽ chủng tộc và tôn giáo do vụ xả súng gây ra. Cộng đồng Ả Rập hồi giáo không còn lo bị cắt giảm các quỹ hỗ trợ hoặc bị siết chặt nhập cư.
Tuiy nhiên vụ việc diễn ra ngay trước thềm dịp Lễ hội Giáng sinh và mua sắm cuối năm, chắc chắn sẽ làm nhiều người e ngại tu tập vào những chỗ đông người. Do đó doanh số vào mùa bán hàng lớn nhất trong năm sẽ bị giảm sút.
Đêm nay, chương trình bắn pháo hoa vào tối thứ bẩy hằng tuần tại Darling Harbour bị hủy bỏ. Tuy nhiên chương trình pháo hoa đêm giao thừa thì sẽ vẫn tiếp tục.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

no words

 


Một góc nhìn khác về chiến tranh xâm lược P2

 

Kỳ 2. Nhân duyên với người Pháp
Kỳ 1 đã nêu tên một loạt “ngoại lệ” không bị đô hộ bởi phương tây, đó là những xứ sở nhìn chung có nhà nước ổn định, tổ chức xã hội lớp lang chặt chẽ, có chính sách đối ngoại phù hợp. Đáng lẽ Việt Nam phải là một nước như vậy, nếu không vì một “sự cố” trong nội bộ.
Người Phương Tây đến Việt Nam truyền giáo còn trước cả thuyền buôn, được ghi nhận đầu tiên vào năm 1533, với danh tính Giáo sĩ người Bồ Đào Nha Igesico, vào lúc nội chiến Bắc triều nhà Mạc với Nam triều Lê Trung hưng.
Sau khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp từ năm 1558, do cần vũ khí và kỹ thuật đóng tàu phương tây để đối phó với Chúa Trịnh, các Chúa Nguyễn khá dễ dãi với các tầu buôn từ Châu Âu. Hội An là thương cảng được chính thức thành lập năm 1614, trở thành nơi tụ hội sầm uất nhất Đông Nam Á. Tiếp sau, thương cảng Phố Hiến (thuộc Hưng Yên) cũng chính thức được thành lập ở đàng ngoài vào năm 1672.
Cho đến thời vua Gia Long, Việt Nam vẫn giữ truyền thống là quốc gia khá cởi mở và thân thiện với người Tây, cho phép tự do truyền đạo và buôn bán, trong khi Trung Quốc và Triều tiên khá khép kín.
Minh Mạng nối ngôi Gia Long từ năm 1820, nhưng đến năm 1833 mới ra lệnh bế quan tỏa cảng, đặc biệt là cấm đạo gay gắt. Sau 300 năm chẵn truyền bá đạo Thiên chúa, số lượng giáo dân không nhỏ đã bị đàn áp dã man.
Năm 1833 là năm xẩy ra vụ án “thông dâm với mẹ ruột” rất vô lý (?!), hậu quả là hoàng tôn Đán, cháu đích tôn của Gia Long bị tước bỏ danh hiệu hoàng gia, phế làm thứ dân. Tả quân Lê Văn Duyệt, một khai quốc công thần, người từng công khai thuyết phục vua Gia Long truyền ngôi cho Đán qua đời ở tuổi 69. Lê Văn Duyệt không có con đẻ nên nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Khôi đã đi xa hơn cha mình khi dấy binh chống lại triều đình với mục đích phế bỏ Minh Mạng, lập hoàng tôn Đán. Cuộc khởi nghĩa được đông đảo hưởng ứng và đã nhanh chóng chiếm được toàn bộ lục tỉnh Nam bộ.
Không may, ngay sau đó năm 1834, Khôi bị bệnh chết. Cuộc binh biến đã bị dìm trong biển máu, Minh Mạng đã nhẫn tâm xử lăng trì (tùng xẻo) đối với con trai của Khôi mới 8 tuổi. Trong 5 năm 1833-1838, ước tính số người bị giết, đa số là giáo dân lên đến 500,000 người. Với dân số Việt Nam hồi đó khoảng 10 triệu thì đây có thể coi là một cuộc diệt chủng giống như Polpot ở Campuchia sau này.
Hoàng tôn Đán từng đi du học ở nước ngoài, ông được coi là thân phương tây và giáo dân. Những người có xu hướng cải cách muốn ủng hộ Đán lên ngôi để Việt Nam thay đổi, thậm chí còn có cơ hội canh tân trước cả Nhật Bản. Minh Mạng không dám giết Đán nhưng muốn trừ khử vây cánh bằng cách cấm đạo và đàn áp giáo dân.
Giáo dân Việt phải bỏ trốn, cất giấu sách truyền đạo và các đồ thánh kinh mà việc trùy lùng vẫn tiếp diễn sau Minh Mạng là trào Thiệu Trị và Tự Đức. Giáo sĩ phương tây tiếp tục đến Việt Nam, vẫn bị bắt giữ và kết tội xử tử, mối quan hệ với các nước có đạo ngày càng căng thẳng.
Lúc đó bên Pháp vua Napoleon đệ tam mới lên ngôi. Ông là người rất sùng đạo và đã ra lệnh chuẩn bị can thiệp vào Việt Nam để cứu các giáo sĩ Tây và giáo dân. Theo các báo cáo vẫn còn lưu giữ trong văn khố, quân Pháp được người dân Việt ủng hộ nên tiến quân rất nhanh, chiếm được Nam bộ nhanh chóng.
Việc đàm phán “xin” lại Lục tỉnh không được, nhà Nguyễn đã phạm sai lầm khi cầu cứu Thiên triều, nơi mà họ đang triều cống và nhận sắc phong. Người Tàu chỉ quen thói bắt nạt Việt Nam, chứ với người Tây, kể cả người Nhật thì luôn chuốc lấy những thất bại nhục nhã.
Sau khi bắt triều đình nhà Nguyễn phải ký Hiệp ước Hiệp Hòa 1883 thừa nhận quyền Bảo hộ của người Pháp, Pháp đã giành chiến thắng trước quân nhà Thanh với những điều khoản bất lợi cho bên thua cuộc, kể cả việc hủy bỏ triều cống, vua Nam không phải quỳ lạy khi nhận quốc thư, tức chiếu chỉ từ phương Bắc nữa.
Nếu tính từ 1883 đến 1939 là năm Nhật đánh Pháp, với vỏn vẹn 56 năm, Pháp đã thay đổi hoàn toàn hiện trạng Việt Nam. Khi người Pháp mới vào, hầu hết người dân ta còn phải sống trong những ngôi nhà tranh vách đất siêu vẹo thì nay những thành phố Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng khang trang đã mọc lên. Một nền hành chánh pháp trị bắt đầu được hình thành cùng với những trí thức người Việt được Pháp đào tạo.
Nếu Minh Mạng bắt chước vua Nghêu nhường ngôi cho vua Thuấn bằng cách nhường ngôi cho cháu ruột là hoàng tôn Cán sẽ không có chuyện đàn áp tôn giáo, nhiều khả năng Pháp sẽ không xâm lược Việt Nam.
Cũng không sao, cuộc nhân duyên với Pháp có thể coi là mối quan hệ win-win. Mình không có đủ kiến thức để hiểu Pháp được lợi những gì nhưng nước Việt rõ ràng đã được khai hóa văn minh trở thành một vùng đất phát triển hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á, trong đó Sài Gòn là niềm kiêu hãnh của hòn ngọc viễn đông.
Truyện Tàu có câu “thiên hạ là của chung, ai có đức thì người ấy được”, theo đó “người có đức” có lẽ là những người có nhiều hiểu biết hơn, tiến bộ và đi trước. Người xưa còn hay nói đến “mệnh trời”, nếu không phải mê tín dị đoan thì ắt là những quy luật khách quan, dẫn dắt nhân loại đi theo một luồng lạch nào đó.
Lịch sử được tạo ra bởi những biến cố muôn hình vạn trạng, quyết định vận mệnh của cả dân tộc. Hình như Việt Nam đang ở khúc quanh đó.

Một góc nhìn khác về chiến tranh xâm lược P1

 

Kỳ 1. Đánh bắt xa bờ
Có bao giờ bạn tự hỏi, nếu Pháp không xâm lược Việt Nam thì sao? Sự thật là không phải tất cả các nước và vùng lãnh thổ các châu lục Á Phi Mỹ và Đại dương đều bị đô hộ bởi các cường quốc phương tây mà có rất nhiều ngoại lệ. Ở Châu Phi đó là Liberia và Ethiopia; Châu Đại dương là Tonga; Châu Á có Nhật, Triều tiên, Trung Quốc và Thái Lan; với Châu Mỹ, sau khi thành lập nước thì Mỹ còn đi xâm chiếm một số nơi.
Con người, cũng như con vật đều tuân theo quy luật bản năng “cá lớn nuốt cá bé”. Đến thế kỷ 15, các điều kiện kỹ thuật, tài chính và cả lòng dũng cảm của người Châu Âu cho phép họ thám hiểm khắp thế giới, dần dần là thôn tính thuộc địa. Không phải tất cả các nước châu Âu, có thể kể đến Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Bì, Hà lan, Đức và Ý.
Khi kỷ nguyên ”đánh bắt xa bờ” đã bắt đầu thì một số nước khác vẫn “ăn quẩn cổi xay” các nước láng giếng như Otoman (Thổ Nhĩ Kỳ) gây ảnh hưởng ở Tây Á và Đông Nam Âu, Nga ở Trung Á và Nhật vào Triều tiên, Đài Loan, Miến Điện, Nam Dương, Đông Dương.
Những người theo chủ nghĩa duy vật cho rằng đánh chiếm thuộc địa là nhằm mục đích tìm thị trường để bán hàng hóa, tăng lợi nhuận tư bản. Thực tế lịch sử phức tạp hơn nhiều, không chỉ lý do vật chất mà các lý do tinh thần như ý thức hệ, tôn giáo và văn hóa... theo từng hoàn cảnh cụ thể, đều gây nên chiến tranh xâm lược.
Năm 1633, người Tây Ban Nha yêu cầu vua Inca phải để thần dân cải đạo sang Thiên chúa giáo nhưng bị từ chối đã lập tức bùng phát nên chiến tranh. Theo đó 168 lính da trắng đã đánh bại 8000 quân da đỏ, đánh dấu sự toàn thắng của phương Tây tại tân lục địa. Chỉ sau 40 năm, kể từ khi tìm ra Châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, họ đã trở thành chủ nhân mới của cả châu lục mênh mông.
Trong quá khứ, Maya là đế chế da đỏ hùng mạnh nhất Châu Mỹ, rất giỏi về toán học và thiên văn, có chữ tượng hình đơn giản. Nhưng khi người Châu Âu đến, Maya đã bị tự diệt vong, vẫn còn hai đế chế khác là Aztec ở Trung Mỹ và Inca ở Nam Mỹ, nhưng cả hai đế chế này cũng chỉ canh giữ một vùng đất khá nhỏ, còn phần lớn đất đai là nơi cư trú của các bộ lạc nhỏ lẻ rải rác hoặc bỏ hoang. Nhìn chung họ lạc hậu hơn nhiều so với người phương Tây, không có chữ viết, lại xung đột nội bộ nên dễ dàng bị đánh bại.
Tình trạng lúc này là 80% dân số da đỏ đã chết, không phải vì chiến tranh mà chủ yếu do dịch bệnh du nhập, đặc biệt là bệnh đậu mùa. Đến nay có thể coi dân số da đỏ đã hồi phục, khoảng 70 triệu, còn cao hơn trước khi người Châu Âu đến một chút, đã có kháng thể chống dịch bệnh. Vì rất thiếu nhân lực nên các nước phương Tây đã phải đưa người từ Châu Phi sang.
Trong suốt 400 năm, từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thể kỷ 19, thuyền bè Châu Âu chỉ lượn lờ bên “ngoài rìa” các bờ biển mà ngần ngại đi sâu vào bên trong lục địa đen “rừng thiêng nước độc”. Tục lệ buôn bán nô lệ không phải của Châu Âu hay Châu Mỹ mà xuất phát từ Châu Phi. Nhưng nếu chỉ mua nô lệ ngoài chợ thì không đủ nên sẵn ưu thế quân sự, các cường quốc Châu Âu đã thôn tính luôn cả Châu lục.
Nếu một cậu trai đến với một cô gái mà để “vài trăm năm sau” mới chén thì đó không phải là một tên Sở Khanh, chẳng qua vì hoàn cảnh thôi. Như vậy, lý do xâm chiếm Châu Phi không phải để bán hàng vì người da đen khá nghèo cũng chẳng có tiền mà mua, mà lý do trực tiếp là vì nguồn nô lệ da đen.
Với Trung Quốc thì khác, đó là một thị trường thực sự lớn. Nhưng khi buôn bán, người Tàu rất khôn, họ bán trà, gốm sứ, gấm lụa sang Châu Âu mà hầu như chẳng chịu mua gì, dẫn đến tình trạng thâm thủng thuơng mại nặng, giống như ngày nay. Người Anh đành phải “giở võ”, đưa nha phiến từ Ấn Độ sang bán, cân bằng mậu dịch được thiết lập, thâm chí còn xuất siêu.
Quan chức Tầu ra lệnh tịch thu và thiêu hủy toàn bộ thuốc phiện ở cảng của người Anh. Đó là lý do chiến tranh nha phiến nổ ra năm 1840 với kết quả 4000 lính hải quân Anh đã đánh bại đội quân lên đến hàng triệu của nhà Thanh. Triều đình bên Tàu đã hèn hạ chấp nhận bồi thường chiến phí và thiệt hại kinh doanh, cắt đất Hongkong, mở thêm hải cảng cho thuyền buôn phương Tây, mạt hạng nhất là hợp pháp hóa việc buôn bán thuốc phiện. Chỉ vì giữ ngai vàng, vua Thanh đã để cho ngoại bang đầu độc người dân bằng những liều thuốc hủy hoại cơ thể.
Lý do người Anh vào Úc không liên quan gì đến kinh doanh hay thị trường mà trước hết chỉ là đưa tù nhân đi đày, trong đó phần đáng kể là tù nhân từ Ai len, những người nổi dậy chống đối triều đình. Thổ dân Úc lúc đó chỉ vào khoảng 700000-800000 (ít hơn con số một triệu hiện tại), ngang ngửa với dân số Hawaii diện tích nhỏ bé cũng vào lúc trước khi người da trắng đến, lại còn bị chết cỡ 2/3 vì dịch bệnh nên có thể hiểu có một khoảng trống mênh mông.
Nhận thấy đất Úc rộng quá lại ít người nên mới chính phủ Anh dần dần khuyến khích di cư lập dựng nên nước Úc giàu đẹp như ngày nay. Thực sự lục địa Úc trước đây quá hoang sơ, người thổ dân chỉ ở chuồng sống trong hang mà không có nhà, chứ nói gì đến đường sá, cầu cống.
Nếu bảo phương tây khai thác tài nguyên thuộc địa thì có ai nghĩ đến những chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, trường học, bệnh viện không? Hoặc bóc lột người bản xứ thì việc nâng cao dân trí thì sao?
Nếu nhiều màu mè thì sao họ không bám lấy mà đều tìm cách trao trả độc lập, như người Pháp ở Châu Phi chỉ có 60 năm là bỏ của chạy lấy người. Với Tân Đảo (New Caledonia) Pháp muốn buông từ lâu mà dân ở đó không chịu. Người Hawaii cũng không chịu độc lập nên Mỹ đành nhận làm tiểu bang thứ 50!
Mình nghĩ đi làm chiến tranh xâm lược vì mục đích kiếm tiền chỉ là một chuyện nhỏ, cái chính là nhưng lý do tinh thần khác muôn hình vạn trạng. Hoặc để chứng tỏ cái tôi quyền lực chẳng cần lắm sao?
(còn nữa)

Arsenal: gọi tên nhà vô địch

 

Kinh hoàng: voi trèo lên ngọn cây, không phải một mà hai cây. Arsenal đang độc diễn ở cả hai mặt trận Premier League và Champions League.
Bây giờ hãy thử xem họ là ai? Tạm thời bỏ qua phân tích kỹ chiến thuật mà thử nhìn vào góc độ quốc tịch.
Trong danh sách 24 cầu thủ trong trang chủ của đội thì có thể chia làm 4 nhóm gồm 8 cầu thủ Anh, 5 Tây Ban Nha, 4 Nam Mỹ, 7 Châu Âu, kỳ lạ ở chỗ mỗi nước chỉ có một gương mặt tiêu biểu gồm Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Pháp, Bỉ, Hà Lan và Ý. Như vậy không có cầu thủ nào thuộc Châu Phi, Châu Á, Bắc Mỹ, Caribe, kể cả Đông Âu.
Bốn nhóm này đều có đại diện trong "ban đội trưởng", theo thứ tự đeo băng là Odegaard, Saka, Gabriel, Rice và Merino. Riêng nhóm Anh quốc có hai người.
Đây là điều khác biệt với kỷ nguyên Wenger, thời kỳ Arsenal đi tiên phong trong việc đa dạng hóa quốc tịch. Lúc đó Pháo thủ có thể coi là đông cầu thủ da đen nhất, giờ thì ngược lại, khá là trắng so với các đội PL. Mấy cầu thủ da đen lại đa số thuộc quốc tịch Anh (6/8).
Sau trận "chung kết" với Bayern Munich, Arsenal đã tạo ra cách biệt 3 điểm với các đối thủ CL.
Ở PL, đêm nay sẽ là trận chung kết thứ ba. Khi gặp Liverpool và Man city thì hai đội này đều được coi là đối thủ hàng đầu thì đêm nay với Chelsea đang là kẻ bám đuổi sát nhất.
Chelsea đang bước vào độ chín sau khi trẻ hóa mạnh vào năm ngoái. Đội vừa toàn thắng 4 trận liên tiếp, gần nhất là hạ gục Barca 3-0.
Đã thế, trận đụng Arsenal lại có sự trở lại của Palmer, ngôi sao quan trọng nhất của đội.
Trong khi đó Arsenal gặp khó khi gặp ba đối thủ lớn Tottenham, Bayern Munich và Chelsea trong 6 ngày.
Một chi tiết đáng chú ý, Arsenal thiếu vắng cả ba trung phong vì chấn thương, rất may nhờ Merino trám vào đã chơi tốt. Trong hai trận vừa qua, Arsenal dẫn trước đối thủ 4-1 và 3-1 khá sớm, ông bầu Arteta vẫn giữ Merino chơi đủ 90 phút mà không cần "để dành". Vậy là sắp có biến, ít nhất một trong ba trung phong sẽ trở lại trong đêm nay!
Điều này báo hiệu một cuộc thư hùng ra trò. Với khoảng cách 6 điểm, đội trắng đỏ có thua thì vẫn còn 3 điểm nhưng họ không muốn tạo thêm một đối thủ là đội áo lam nữa.
Theo máy tính, 76% Arsenal sẽ vô địch, Man city là 20%, các đội khác cơ hội không đáng kể.
Nếu Chelsea thắng, cơ hội của họ sẽ tăng vọt, nhưng hơi khó qua mặt Arsenal vào lúc này.