Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

Giang Thanh: Bi kịch của nữ hoàng hột le

 


Trong phong trào bán hột le mua hột xoàn do chị Hằng phát động, mọi người nên nhớ đến một nữ nhi không tầm thường khác, đỉnh của nghề buôn hột đó là Giang Thanh, vợ thứ tư kém 21 tuổi của Mao Trạch Đông.
Từ một ca sĩ trung bình về tài nghệ lẫn nhan sắc, Giang phu nhân đã đi vào lịch sử với những câu chuyện để đời.
Mao truyền ngôi cho Hoa Quốc Phong với câu viết nổi tiếng: "Chú làm việc, ta yên tâm; khi có chuyện, hỏi Giang Thanh". Hoa lúc đó mới ngoài 50, thuộc loại trẻ ranh so với các BCT lão luyện, Mao có ý để Giang và bè lũ bốn tên nhiếp chính.
Tuy nhiên trời không chiều lòng người, phái "Phàm là" đã thua phái "Thực dụng" của Đặng Tiểu Bình. Nhưng Đặng đã khôn ngoan không đạp đổ di sản của Mao bằng kết luận "Công bẩy, tội ba", tức công của Mao lớn hơn tội.
Mình nhờ Gemini viết về người đàn bà đỉnh trong nghề buôn vua này.
. . . . .
Trong lịch sử hiện đại, hiếm có người phụ nữ nào để lại dấu ấn đầy mâu thuẫn như Giang Thanh. Cuộc đời bà là một vở kịch nhiều màn, nơi ranh giới giữa nghệ thuật sân khấu và thủ đoạn chính trị bị xóa mờ hoàn toàn. Từ một cô diễn viên hạng trung ở Thượng Hải khao khát ánh đèn sân khấu, Giang đã bước lên đỉnh cao quyền lực của một quốc gia hàng tỷ dân, để rồi cuối cùng kết thúc hành trình trong sự cô độc và tủi nhục sau thanh sắt nhà giam.
Sự nghiệp chính trị của Giang Thanh là một bức tranh bi hài kịch điển hình về sự chênh lệch giữa chức vụ chính thức và quyền lực thực tế.
Về mặt danh nghĩa, trong suốt nhiều năm, Giang Thanh không hề nắm giữ các vị trí lãnh đạo tối cao trong bộ máy Nhà nước hay Đảng. Bà không phải là Tổng Bí thư, không phải Chủ tịch nước, cũng chẳng phải Thủ tướng. Vị trí chính thức lâu năm và "khiêm tốn" nhất của bà chỉ đơn giản là... phu nhân của Chủ tịch Mao Trạch Đông.
Ngay cả khi bước vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa (1966–1976), chức vụ chính thức cao nhất mà bà đảm nhận cũng chỉ là Phó Trưởng Ban Cách mạng Văn hóa Trung ương và Ủy viên Bộ Chính trị. Trên giấy tờ, Giang Thanh chưa bao giờ là người đứng đầu chính thức của bất kỳ cơ quan quyền lực nhà nước trọng yếu nào.
Thế nhưng, bi kịch của lịch sử nằm ở chỗ: quyền lực thực tế của bà lại tỉ lệ nghịch hoàn toàn với những danh xưng hành chính đó.
Núp bóng dưới cái danh "người truyền đạt ý chí của Chủ tịch", Giang Thanh sở hữu một thứ quyền lực bóng tối gần như vô hạn. Bà không cần một chức vụ chính thức để bãi nhiệm các quan chức cấp cao; bà chỉ cần một lời phát biểu tại các buổi diễn thuyết để biến những nhà lãnh đạo hay các tướng lĩnh kỳ cựu thành "kẻ thù của nhân dân".
Bằng việc thao túng Tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương và thành lập phe "Tứ đại đồng mưu" (bè lũ bốn tên), Giang Thanh đã biến đời sống chính trị và văn hóa của một đất nước khổng lồ thành sân khấu riêng của mình.
Sự châm biếm đỉnh cao nằm ở lĩnh vực nghệ thuật – xuất thân ban đầu của bà. Là một diễn viên, Giang Thanh dùng quyền lực thực tế để khống chế nền văn hóa nghệ thuật phong phú nghìn năm, cô đọng toàn bộ đời sống tinh thần của hàng trăm triệu dân vào đúng "Tám mẫu kịch cách mạng" do bà độc quyền phê duyệt. Một cựu đào hát Thượng Hải trở thành "đại giáo chủ" văn hóa, định đoạt xem nhân dân được nghe nhạc gì, xem vở kịch nào và suy nghĩ ra sao. Quyền lực thực tế ấy không đến từ sự nể trọng hay tài năng kiệt xuất, mà đến từ sự sợ hãi và vầng hào quang vay mượn từ người chồng vĩ đại.
Nhưng quyền lực dựa trên sự vay mượn và bóng tối luôn mang bản chất của một bong bóng xà phòng. Khi cây đại thụ Mao Trạch Đông qua đời vào năm 1976, tấm màn nhung bảo vệ Giang Thanh lập tức sụp đổ. Chỉ một tháng sau cái chết của chồng, bà cùng nhóm "Tứ đại đồng mưu" bị bắt giữ.
Phiên tòa lịch sử năm 1980–1981 là màn hạ cay đắng nhất cho cuộc đời bà. Khi đứng trước bệ thẩm đoàn, bị cáo buộc những tội danh khủng khiếp trong mười năm hỗn loạn của Cách mạng Văn hóa, Giang Thanh đã gầm lên một câu nói lột tả trần trụi bản chất quyền lực của mình: "Tôi là con chó của Chủ tịch Mao. Ông ấy bảo tôi cắn ai, tôi cắn người đó!" .
Sự chua chát và cay đắng đọng lại chính ở thời điểm này: người phụ nữ từng múa may quay cuồng trên đỉnh cao quyền lực, thâu tóm số phận của hàng triệu người, cuối cùng thừa nhận mình chỉ là một công cụ, một cái bóng không hơn không kém.
Bị tuyên án tử hình (sau giảm xuống chung thân), Giang Thanh sống những năm tháng cuối đời trong sự cô lập hoàn toàn. Năm 1991, bà tự sát trong phòng giam, kết thúc một đời sóng gió.
Cuộc đời Giang Thanh là một lời nhắc nhở cay đắng về cái giá của quyền lực ảo tưởng. Bà khao khát trở thành nữ hoàng trên sân khấu chính trị, nhưng rốt cuộc chỉ là nạn nhân và cũng là thủ túc trong một bi kịch do chính mình góp phần dàn dựng.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

Một góc nhìn khác về chiến tranh xâm lược P2

 

Kỳ 2. Nhân duyên với người Pháp
Kỳ 1 đã nêu tên một loạt “ngoại lệ” không bị đô hộ bởi phương tây, đó là những xứ sở nhìn chung có nhà nước ổn định, tổ chức xã hội lớp lang chặt chẽ, có chính sách đối ngoại phù hợp. Đáng lẽ Việt Nam phải là một nước như vậy, nếu không vì một “sự cố” trong nội bộ.
Người Phương Tây đến Việt Nam truyền giáo còn trước cả thuyền buôn, được ghi nhận đầu tiên vào năm 1533, với danh tính Giáo sĩ người Bồ Đào Nha Igesico, vào lúc nội chiến Bắc triều nhà Mạc với Nam triều Lê Trung hưng.
Sau khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp từ năm 1558, do cần vũ khí và kỹ thuật đóng tàu phương tây để đối phó với Chúa Trịnh, các Chúa Nguyễn khá dễ dãi với các tầu buôn từ Châu Âu. Hội An là thương cảng được chính thức thành lập năm 1614, trở thành nơi tụ hội sầm uất nhất Đông Nam Á. Tiếp sau, thương cảng Phố Hiến (thuộc Hưng Yên) cũng chính thức được thành lập ở đàng ngoài vào năm 1672.
Cho đến thời vua Gia Long, Việt Nam vẫn giữ truyền thống là quốc gia khá cởi mở và thân thiện với người Tây, cho phép tự do truyền đạo và buôn bán, trong khi Trung Quốc và Triều tiên khá khép kín.
Minh Mạng nối ngôi Gia Long từ năm 1820, nhưng đến năm 1833 mới ra lệnh bế quan tỏa cảng, đặc biệt là cấm đạo gay gắt. Sau 300 năm chẵn truyền bá đạo Thiên chúa, số lượng giáo dân không nhỏ đã bị đàn áp dã man.
Năm 1833 là năm xẩy ra vụ án “thông dâm với mẹ ruột” rất vô lý (?!), hậu quả là hoàng tôn Đán, cháu đích tôn của Gia Long bị tước bỏ danh hiệu hoàng gia, phế làm thứ dân. Tả quân Lê Văn Duyệt, một khai quốc công thần, người từng công khai thuyết phục vua Gia Long truyền ngôi cho Đán qua đời ở tuổi 69. Lê Văn Duyệt không có con đẻ nên nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Khôi đã đi xa hơn cha mình khi dấy binh chống lại triều đình với mục đích phế bỏ Minh Mạng, lập hoàng tôn Đán. Cuộc khởi nghĩa được đông đảo hưởng ứng và đã nhanh chóng chiếm được toàn bộ lục tỉnh Nam bộ.
Không may, ngay sau đó năm 1834, Khôi bị bệnh chết. Cuộc binh biến đã bị dìm trong biển máu, Minh Mạng đã nhẫn tâm xử lăng trì (tùng xẻo) đối với con trai của Khôi mới 8 tuổi. Trong 5 năm 1833-1838, ước tính số người bị giết, đa số là giáo dân lên đến 500,000 người. Với dân số Việt Nam hồi đó khoảng 10 triệu thì đây có thể coi là một cuộc diệt chủng giống như Polpot ở Campuchia sau này.
Hoàng tôn Đán từng đi du học ở nước ngoài, ông được coi là thân phương tây và giáo dân. Những người có xu hướng cải cách muốn ủng hộ Đán lên ngôi để Việt Nam thay đổi, thậm chí còn có cơ hội canh tân trước cả Nhật Bản. Minh Mạng không dám giết Đán nhưng muốn trừ khử vây cánh bằng cách cấm đạo và đàn áp giáo dân.
Giáo dân Việt phải bỏ trốn, cất giấu sách truyền đạo và các đồ thánh kinh mà việc trùy lùng vẫn tiếp diễn sau Minh Mạng là trào Thiệu Trị và Tự Đức. Giáo sĩ phương tây tiếp tục đến Việt Nam, vẫn bị bắt giữ và kết tội xử tử, mối quan hệ với các nước có đạo ngày càng căng thẳng.
Lúc đó bên Pháp vua Napoleon đệ tam mới lên ngôi. Ông là người rất sùng đạo và đã ra lệnh chuẩn bị can thiệp vào Việt Nam để cứu các giáo sĩ Tây và giáo dân. Theo các báo cáo vẫn còn lưu giữ trong văn khố, quân Pháp được người dân Việt ủng hộ nên tiến quân rất nhanh, chiếm được Nam bộ nhanh chóng.
Việc đàm phán “xin” lại Lục tỉnh không được, nhà Nguyễn đã phạm sai lầm khi cầu cứu Thiên triều, nơi mà họ đang triều cống và nhận sắc phong. Người Tàu chỉ quen thói bắt nạt Việt Nam, chứ với người Tây, kể cả người Nhật thì luôn chuốc lấy những thất bại nhục nhã.
Sau khi bắt triều đình nhà Nguyễn phải ký Hiệp ước Hiệp Hòa 1883 thừa nhận quyền Bảo hộ của người Pháp, Pháp đã giành chiến thắng trước quân nhà Thanh với những điều khoản bất lợi cho bên thua cuộc, kể cả việc hủy bỏ triều cống, vua Nam không phải quỳ lạy khi nhận quốc thư, tức chiếu chỉ từ phương Bắc nữa.
Nếu tính từ 1883 đến 1939 là năm Nhật đánh Pháp, với vỏn vẹn 56 năm, Pháp đã thay đổi hoàn toàn hiện trạng Việt Nam. Khi người Pháp mới vào, hầu hết người dân ta còn phải sống trong những ngôi nhà tranh vách đất siêu vẹo thì nay những thành phố Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng khang trang đã mọc lên. Một nền hành chánh pháp trị bắt đầu được hình thành cùng với những trí thức người Việt được Pháp đào tạo.
Nếu Minh Mạng bắt chước vua Nghêu nhường ngôi cho vua Thuấn bằng cách nhường ngôi cho cháu ruột là hoàng tôn Cán sẽ không có chuyện đàn áp tôn giáo, nhiều khả năng Pháp sẽ không xâm lược Việt Nam.
Cũng không sao, cuộc nhân duyên với Pháp có thể coi là mối quan hệ win-win. Mình không có đủ kiến thức để hiểu Pháp được lợi những gì nhưng nước Việt rõ ràng đã được khai hóa văn minh trở thành một vùng đất phát triển hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á, trong đó Sài Gòn là niềm kiêu hãnh của hòn ngọc viễn đông.
Truyện Tàu có câu “thiên hạ là của chung, ai có đức thì người ấy được”, theo đó “người có đức” có lẽ là những người có nhiều hiểu biết hơn, tiến bộ và đi trước. Người xưa còn hay nói đến “mệnh trời”, nếu không phải mê tín dị đoan thì ắt là những quy luật khách quan, dẫn dắt nhân loại đi theo một luồng lạch nào đó.
Lịch sử được tạo ra bởi những biến cố muôn hình vạn trạng, quyết định vận mệnh của cả dân tộc. Hình như Việt Nam đang ở khúc quanh đó.

Một góc nhìn khác về chiến tranh xâm lược P1

 

Kỳ 1. Đánh bắt xa bờ
Có bao giờ bạn tự hỏi, nếu Pháp không xâm lược Việt Nam thì sao? Sự thật là không phải tất cả các nước và vùng lãnh thổ các châu lục Á Phi Mỹ và Đại dương đều bị đô hộ bởi các cường quốc phương tây mà có rất nhiều ngoại lệ. Ở Châu Phi đó là Liberia và Ethiopia; Châu Đại dương là Tonga; Châu Á có Nhật, Triều tiên, Trung Quốc và Thái Lan; với Châu Mỹ, sau khi thành lập nước thì Mỹ còn đi xâm chiếm một số nơi.
Con người, cũng như con vật đều tuân theo quy luật bản năng “cá lớn nuốt cá bé”. Đến thế kỷ 15, các điều kiện kỹ thuật, tài chính và cả lòng dũng cảm của người Châu Âu cho phép họ thám hiểm khắp thế giới, dần dần là thôn tính thuộc địa. Không phải tất cả các nước châu Âu, có thể kể đến Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Bì, Hà lan, Đức và Ý.
Khi kỷ nguyên ”đánh bắt xa bờ” đã bắt đầu thì một số nước khác vẫn “ăn quẩn cổi xay” các nước láng giếng như Otoman (Thổ Nhĩ Kỳ) gây ảnh hưởng ở Tây Á và Đông Nam Âu, Nga ở Trung Á và Nhật vào Triều tiên, Đài Loan, Miến Điện, Nam Dương, Đông Dương.
Những người theo chủ nghĩa duy vật cho rằng đánh chiếm thuộc địa là nhằm mục đích tìm thị trường để bán hàng hóa, tăng lợi nhuận tư bản. Thực tế lịch sử phức tạp hơn nhiều, không chỉ lý do vật chất mà các lý do tinh thần như ý thức hệ, tôn giáo và văn hóa... theo từng hoàn cảnh cụ thể, đều gây nên chiến tranh xâm lược.
Năm 1633, người Tây Ban Nha yêu cầu vua Inca phải để thần dân cải đạo sang Thiên chúa giáo nhưng bị từ chối đã lập tức bùng phát nên chiến tranh. Theo đó 168 lính da trắng đã đánh bại 8000 quân da đỏ, đánh dấu sự toàn thắng của phương Tây tại tân lục địa. Chỉ sau 40 năm, kể từ khi tìm ra Châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, họ đã trở thành chủ nhân mới của cả châu lục mênh mông.
Trong quá khứ, Maya là đế chế da đỏ hùng mạnh nhất Châu Mỹ, rất giỏi về toán học và thiên văn, có chữ tượng hình đơn giản. Nhưng khi người Châu Âu đến, Maya đã bị tự diệt vong, vẫn còn hai đế chế khác là Aztec ở Trung Mỹ và Inca ở Nam Mỹ, nhưng cả hai đế chế này cũng chỉ canh giữ một vùng đất khá nhỏ, còn phần lớn đất đai là nơi cư trú của các bộ lạc nhỏ lẻ rải rác hoặc bỏ hoang. Nhìn chung họ lạc hậu hơn nhiều so với người phương Tây, không có chữ viết, lại xung đột nội bộ nên dễ dàng bị đánh bại.
Tình trạng lúc này là 80% dân số da đỏ đã chết, không phải vì chiến tranh mà chủ yếu do dịch bệnh du nhập, đặc biệt là bệnh đậu mùa. Đến nay có thể coi dân số da đỏ đã hồi phục, khoảng 70 triệu, còn cao hơn trước khi người Châu Âu đến một chút, đã có kháng thể chống dịch bệnh. Vì rất thiếu nhân lực nên các nước phương Tây đã phải đưa người từ Châu Phi sang.
Trong suốt 400 năm, từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thể kỷ 19, thuyền bè Châu Âu chỉ lượn lờ bên “ngoài rìa” các bờ biển mà ngần ngại đi sâu vào bên trong lục địa đen “rừng thiêng nước độc”. Tục lệ buôn bán nô lệ không phải của Châu Âu hay Châu Mỹ mà xuất phát từ Châu Phi. Nhưng nếu chỉ mua nô lệ ngoài chợ thì không đủ nên sẵn ưu thế quân sự, các cường quốc Châu Âu đã thôn tính luôn cả Châu lục.
Nếu một cậu trai đến với một cô gái mà để “vài trăm năm sau” mới chén thì đó không phải là một tên Sở Khanh, chẳng qua vì hoàn cảnh thôi. Như vậy, lý do xâm chiếm Châu Phi không phải để bán hàng vì người da đen khá nghèo cũng chẳng có tiền mà mua, mà lý do trực tiếp là vì nguồn nô lệ da đen.
Với Trung Quốc thì khác, đó là một thị trường thực sự lớn. Nhưng khi buôn bán, người Tàu rất khôn, họ bán trà, gốm sứ, gấm lụa sang Châu Âu mà hầu như chẳng chịu mua gì, dẫn đến tình trạng thâm thủng thuơng mại nặng, giống như ngày nay. Người Anh đành phải “giở võ”, đưa nha phiến từ Ấn Độ sang bán, cân bằng mậu dịch được thiết lập, thâm chí còn xuất siêu.
Quan chức Tầu ra lệnh tịch thu và thiêu hủy toàn bộ thuốc phiện ở cảng của người Anh. Đó là lý do chiến tranh nha phiến nổ ra năm 1840 với kết quả 4000 lính hải quân Anh đã đánh bại đội quân lên đến hàng triệu của nhà Thanh. Triều đình bên Tàu đã hèn hạ chấp nhận bồi thường chiến phí và thiệt hại kinh doanh, cắt đất Hongkong, mở thêm hải cảng cho thuyền buôn phương Tây, mạt hạng nhất là hợp pháp hóa việc buôn bán thuốc phiện. Chỉ vì giữ ngai vàng, vua Thanh đã để cho ngoại bang đầu độc người dân bằng những liều thuốc hủy hoại cơ thể.
Lý do người Anh vào Úc không liên quan gì đến kinh doanh hay thị trường mà trước hết chỉ là đưa tù nhân đi đày, trong đó phần đáng kể là tù nhân từ Ai len, những người nổi dậy chống đối triều đình. Thổ dân Úc lúc đó chỉ vào khoảng 700000-800000 (ít hơn con số một triệu hiện tại), ngang ngửa với dân số Hawaii diện tích nhỏ bé cũng vào lúc trước khi người da trắng đến, lại còn bị chết cỡ 2/3 vì dịch bệnh nên có thể hiểu có một khoảng trống mênh mông.
Nhận thấy đất Úc rộng quá lại ít người nên mới chính phủ Anh dần dần khuyến khích di cư lập dựng nên nước Úc giàu đẹp như ngày nay. Thực sự lục địa Úc trước đây quá hoang sơ, người thổ dân chỉ ở chuồng sống trong hang mà không có nhà, chứ nói gì đến đường sá, cầu cống.
Nếu bảo phương tây khai thác tài nguyên thuộc địa thì có ai nghĩ đến những chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, trường học, bệnh viện không? Hoặc bóc lột người bản xứ thì việc nâng cao dân trí thì sao?
Nếu nhiều màu mè thì sao họ không bám lấy mà đều tìm cách trao trả độc lập, như người Pháp ở Châu Phi chỉ có 60 năm là bỏ của chạy lấy người. Với Tân Đảo (New Caledonia) Pháp muốn buông từ lâu mà dân ở đó không chịu. Người Hawaii cũng không chịu độc lập nên Mỹ đành nhận làm tiểu bang thứ 50!
Mình nghĩ đi làm chiến tranh xâm lược vì mục đích kiếm tiền chỉ là một chuyện nhỏ, cái chính là nhưng lý do tinh thần khác muôn hình vạn trạng. Hoặc để chứng tỏ cái tôi quyền lực chẳng cần lắm sao?
(còn nữa)

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2025

Dao Thái gọt vỏ Cam

 

Mối quan hệ Thái Lan Cambodia đang trở thành điểm nóng dữ dội tại khu vực Đông Nam Á. Sự việc có vẻ bắt đầu từ cuộc đấu súng ở biên giới làm ít nhất một quân nhân Cam tử trận, tiếp sau là cuốn băng ghi âm 9 phút “nhạy cảm” của hai “bác cháu” Hunsen và Paetongtarn nhưng thật ra đó chỉ là giọt nước tràn lý và những nguyên nhân sâu xa đã âm ỉ từ lâu.
Ngược dòng thời gian, Khmer là một đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử khu vực Đông Nam Á, trải dài khoảng 6 thế kỷ, từ TK 9 đến TK 15, bao gồm lãnh thổ Thái, Cam, phần lớn nước Lào, phần Nam bộ của Việt Nam và một phần nhỏ của Myanmar ngày nay. Có thể coi trước khi Khmer sụp đổ thì nó đã tan vỡ thành ba nước là khi Xiêm và Vạn Tượng tách ra, trở thành Thái vào Lào sau này, phần còn lại gọi là Chân Lạp.
Về sau Chân Lạp mất Thủy Chân Lạp, tức Nam bộ vào tay Chúa Nguyễn, trong khi về phía Tây tiếp tục mất thêm một phần đất cho Xiêm. Chân Lạp lúc này chỉ là một nước nhỏ, thường bị hai nước Việt và Thái từ hai bên uy hiếp. Người Pháp đến và đã vẽ lại bản đổ, lấy lại một phần đất từ Việt Nam và một phần từ Thái Lan cho Cambodia. Nhưng phía Thái Lan không chịu và hiện nay vẫn còn 4 khu vực được coi là vẫn còn tranh chấp giữa hai nước.
Người có quyền lực nhất hiện nay của Cambodia là Hunsen, Chủ tịch đảng cầm quyền kiêm chủ tịch Thượng viện. Đây là một trong những người nắm giữ quyền lực lâu nhất thế giới, lâu nhất Đông Nam Á với 40 năm liên tục.
Hunsen, hỗn danh Hun ch.ột, xuất thân bần tiện, lớn lên đi lính cho Khmer đỏ, rồi đào ngũ chạy sang Việt Nam vào năm 1977. Gần hai năm sau, khi Việt Nam đưa quân vào “giải phóng” Cambodia, Hunsen mới 27 tuổi đã được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng. Không lâu, Thủ tướng Pen Sovan bị phế truất và bị cầm tù, người kế nhiệm Chan Sy bị đột tử ở tuổi 52, Hunsen đã may mắn chính thức trở thành Thủ tướng từ năm 1985, khi mới 33 tuổi. Chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng cầm quyền là Heng Somrin, kế tiếp Chia Sim đều là những nhân vật mờ nhạt nên có thể coi Hunsen là người nổi bật nhất trong chính trường Cambodia.
Năm 1993, dưới sức ép quốc tế, Cambodia chấp nhận chuyển sang chế độ dân chủ đa đảng, tái lập ngôi vua cho Sihanuk. Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên, đảng bảo hoàng Funcipec đã giành thắng lợi nhưng phía đảng NDCM không chịu bàn giao. Ông hoàng Sihanuk đã dĩ hòa vi quý nhận Hunsen làm con nuôi, để cả hai ông Ranariddh và Hunsen làm đồng thủ tướng.
Lúc đó Cambodia được coi là một biểu tượng của sự thay đổi cho cuộc hồi sinh từ nạn diệt chủng Polpot. Cambodia được các nước Phương tây, các tổ chức quốc tế ưu ái đổ tiền của vào. Trong bối cảnh đó, Thái Lan như là một nước đại diện cho thế giới để trong việc hợp tác kinh tế, giúp thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước Chùa Tháp.
Tuy nhiên, chính phủ liên minh đã tan vỡ, bằng lực lượng mật vụ và các mánh khóe, phe Hunsen đã dần dần loại bỏ các đảng đối lập, các thủ lãnh đối lập phải đi lưu vong để bảo toàn tính mạng, Cambodia trở lại thể chế độc đảng. Về quan hệ đối ngoại, Cambodia đã qua mặt Việt Nam hay Thái Lan, chơi hẳn với Trung Quốc, hứng nhận những khoản viện trợ đầu tư kếch xù.
Nhưng Hunsen vẫn “duy trì mối quan hệ gia đình” với gia tộc Shinawatra cho đến khi đổ vỡ bởi đoạn băng ghi âm 9 phút kể trên. Đến nay, quân đội Thái Lan đã triển khai vũ khí hạng nặng đến biên giới; đình chỉ việc bán điện, xăng dầu, thực phẩm, cung cấp internet các các tỉnh biên giới, làm cho kinh tế Cambodia rơi vào thảm cảnh. Nền kinh tế Thái gấp 15 lần kinh tế Cam, về quân sự cũng không hề cân sức, cho dù Cambodia có hơn trăm đại tướng, nhiều nhất thế giới.
Với tương quan lực lượng, “dao Thái gọt vỏ Cam” là chuyện dễ dàng nếu không có chống lưng của các cường quốc bên ngoài. Mọi người nhớ đến Trung Quốc, thật kỳ lạ, là một sự im lặng đáng sợ, không có chút động thái ngoại giao, quân sự, kinh tế nào, kể cả một dòng tuyên bố “quan ngại”.
Thực ra Trung Quốc đã dừng giải ngân các dự án vào Cambodia từ đầu năm nay. Đáng chú ý là dự án Kênh đào Phù Nam, một sự án được kỳ vọng là “Giấc mơ thế kỷ”. Mặc dù Cambodia có biển nhưng bờ biển có địa hình núi cao và sóng lớn nên trên thực tế hàng hóa qua lại vẫn phải đi qua hai của ngõ Việt Nam và Thái Lan. “Kênh đào Phù Nam” là cách Cambodia có thể vươn ra biển thông thương mà không phụ thuộc hai nước láng giềng khổng lồ.
Để lý giải sự im lặng của Trung Quốc, Cambodia chỉ là con tốt nhỏ, không thể để nó liên lụy đến quan hệ với Thái Lan, Việt Nam hay ASEAN. Mubarak từng là đồng minh gần gũi với Phương Tây nhưng khi ông này định nhường ngôi cho con trai thì đã làm Mỹ phật ý và ông không thể giữ được an toàn ghế tổng thống Ai Cập.
Hunsen cũng quá tham lam khi đưa con trai lên làm Thủ tướng, cậu này du học bên Mỹ và Anh về và rõ ràng có ý đồ thoát khỏi vòng tay Trung Quốc. Táo Tháo đã không cứu Lã Bố vì họ Lã từng phản bội Đinh Nguyên và Đổng Trác. Hunsen từng quay xe với Việt Nam và Thái Lan thì Trung Quốc cũng không thể tin Hunsen.
ASEAN cứu Cam là khó vì các nước trong khối không thể quên được hành động phá bĩnh của Cambodia vào năm 2012. Là một nước nhỏ mà Cam dám dùng quyền phủ quyết để rồi lần đầu tiên Hội nghị cấp cao ASEAN không ra được Tuyên bố chung, chỉ vì nó có nội dung bất lợi cho Trung Quốc về biển đông.
Vậy thì Việt Nam? Đương nhiên Việt Nam không muốn Thái xử lý Cam và tạo ảnh hưởng trên nước láng giềng này. Gần đây Thủ tướng và Tổng tư lệnh quân đội Thái đã sang thăm Việt Nam, biết đâu có nội dung bàn thảo gì đó liên quan đến Cambodia?

Dao Thái gọt vỏ Cam (tiếp theo)
Rốt cuộc, chiến sự Cam và Thái đã bùng nổ. Đây chỉ là một cuộc chiến biên giới gói gọn hay sẽ lan rộng ra toàn lãnh thổ Cambodia, ảnh hưởng đến cả bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á?
Trong quá khứ, Việt Nam đã hai lần “giải phóng” Cambodia, lần đầu từ thời Minh Mạng, lần sau năm 1979. Để xem Thái Lan sẽ đi xa đến đâu thì cũng nên tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của cuộc đụng độ Thái và Cam.
Cambodia là nước nhỏ kẹp giữa hai nước lớn là Việt Nam và Thái Lan. Điều mà họ có thể làm là đu dây giữa hai nước phía Đông và phía Tây như đã từng từ vài trăm năm trước. Nạn diệt chủng Polpot đến rồi đi, rồi cựu hoàng Sihanuk hồi hương.
Cambodia đã được cộng đồng quốc tế dành cho nhiều ưu ái về đầu tư và thương mại. Đáng tiếc, Cambodia đã không tận dụng cơ hội để canh tân đất nước, xây dựng một nền kinh tế bền vững, hiện đại, có nội lực, thay vào đó là nạn tham nhũng, độc tài và phụ thuộc kinh tế vào nước ngoài.
Chính quyền Hun Sen đã tỏ ra không biết mình biết ta khi thực hành một chính sách đối ngoại không hợp lý. Thay vì ngả nghiêng giữa Thái và Việt thì họ Hun là muốn làm cây tre giữa Trung Quốc và Phương Tây. Họ nhận viện trợ từ Trung Quốc nhưng lại trao chức thủ tướng cho Hun Manet, một người được đào tạo ở Mỹ và Anh. Hun Manet lên đã kêu gọi cải cách, khôi phục đối thoại nhân quyền với Úc, tuy nhiên người ta hiểu rằng đó chỉ là “chém gió” chứ còn lâu mới là thực lòng.
Dự án kênh đào Phù Nam đã mở ra tiềm năng cho sự hiện diện quân sự của Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á vì tàu chiến cỡ lớn sẽ dễ dàng di chuyển trong kênh. Đó là điều Mỹ không thể làm ngơ và vị “chúa sơn lâm” đã quay trở lại với các động thái quân sự tại những căn cứ cũ tại Thái Lan từ thời chiến tranh Việt Nam.
Cambodia cho rằng kênh đào Phù Nam giúp cho họ “thở bằng mũi của mình” nhưng lại không điếm xỉa khả năng rằng nó gây phương hại về kinh tế và môi trường cho Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tránh thông thương hàng hóa nhập khẩu từ Thái Lan như một cửa ngõ chính hiện nay.
Như vậy việc âm mưu chơi trèo nhằm thoát Thái và thoát Việt chính là nguyên nhân của nguyên nhân. Còn cái mồi lửa là những vùng lãnh thổ tranh chấp trong 100 năm qua tại biên giới Thái – Cam. Để ý rằng, cuộc đụng độ quân sự diễn ra sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng và Tổng Tư lệnh quân đội Thái Lan nên có thể đồ đoán rằng Việt Nam sẽ không can thiệp khi Thái ra tay.
Những diễn biến hiện nay có thể thấy rằng Thái Lan đang thu hồi được các vùng lãnh thổ tranh chấp, còn Việt Nam thì được hưởng lợi từ việc Cambodia đoạn tuyệt với hàng Thái, hàng Việt sẽ tràn ngập trên thị trường đất nước Chùa Tháp.
Thực tế chiến trường cho thấy Cambodia quá yếu so với Thái Lan và tình hình sẽ còn xấu hơn nữa. Báo Thái Lan mới đưa tin Hun Sen đã chạy sang Trung Quốc, có thể để cầu viện hoặc để trốn tránh khi mà nội bộ nước này đã bộc lộ những rạn nứt, thậm chí là một cuộc đảo chính.
Khái niệm “chọn phe” chỉ xảy ra ở các nước độc tài, còn một khi đã chọn con đường đứng về “phe nhân dân” tức một chế độ dân chủ thì việc theo Tàu hay theo Mẽo, Thái hay Việt không cần đặt ra nữa.
Cambodia đã có những cơ hội như vậy mà lần gần nhất vào năm 2018. Lúc đó đích thân Tổng thống Trump (tập 1) đã can thiệp để các nhà lãnh đạo đối lập về nước tham gia tổng tuyển cử. Sau đó cả hai bên đều tuyên bố thắng cử nhưng đảng NDCM của Hun Sen vẫn tiếp tục cầm quyền, dẫn cuộc biểu tình toàn quốc trên quy mô lớn đồng thời việc đàn áp mạnh tay.
Từ đó Cambodia ngày càng lún sâu vào con đường một đảng toàn trị, Hun Sen đưa cả ba con trai tham chính, giữ các chức vụ then chốt như Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng An ninh.
Gia tộc họ Hun đã có quá nhiều tiền, sao họ không lo giữ? Cách bảo vệ tài sản và an toàn thân thể tốt nhất là một xã hội pháp quyền, minh bạch và đó chỉ có thể là chế độ tự do dân chủ chứ không phải là độc tài, gia đình trị. Mới 73 tuổi, Hun “ch.ột” trong có vẻ lọm khọm nhiều so với tuổi (giả vờ?) đang phải trả giá cho những toan tính sai lầm của mình.
Việt Nam là người đã dựng Hun Sen lên nhưng nay là lúc phải tính đến một nước Cambodia hậu Hunsen mà vẫn bảo đảm được lợi ích quốc gia. Lỡ tính rồi thì cũng nên tính luôn nước Tàu hậu Tập Cận Bình và nước Mẽo hậu Trump

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2025

Thỏa ước Abraham và triển vọng hòa bình ở Trung Đông

 

Trong gần 80 năm qua, lò lửa chiến tranh ở Trung Đông chưa bao giờ tắt. Trung Đông (Middle East), khác với Near East và Far East là một vùng đất nhậy cảm vì là nơi hội tụ của nhiều tôn giáo và sắc tộc hết sức phức tạp.
Những điểm nóng cứ đến và nối tiếp tưởng chừng như bất tận. Theo dòng thời gian, có thể kể đến bốn cuộc chiến giữa Do Thái với khối Ả Rập (1948-1973) với kết quả Israel chiếm được bán đảo Sinai của Ai Cập và cao nguyên Golan của Syria. Golan vẫn bị chiếm đóng, trong khi với Hiệp định David Camp năm 1979 do Wasington làm trung gian hòa giải, Ai Cập lấy lại được Sinai, đồng thời quay xe chính sách đối ngoại từ phe Liên Xô sang phe Mỹ.
Lò lửa Trung Đông được liên tục tiếp "nhiên liệu" bởi tranh chấp đất Palestin, cạnh tranh quyết liệt giữa hai phe Phương Tây và khối cộng sản, đồng thời là nguồn dầu lửa.
Năm 1978 cách mạng hồi giáo tại Iran đã xoay chuyển cuộc chơi, theo đó nước Iran dòng Shia mới trở thành kẻ thù nguy hiểm hơn của Israel chứ không phải các nước hồi giáo Sunny nữa.
Các nước Ả Rập cũng coi Ba Tư là kẻ đối nghịch, biểu hiện qua chiến tranh Iran – Iraq kéo dài tới 8 năm khốc liệt (1980-1988). Sau khi chiến tranh với Iran kết thúc chưa lâu, Iraq lại bất ngờ “giải phóng” và sáp nhập Kuait vào năm 1991. Hai lần can thiệp của Mỹ và NATO đã lật đổ các chế độ Hussain của Iraq (2005) và Gaddafi của Lybia (2011), cùng lúc với “cách mạng hoa nhài” dẫn đến lật đổ các chế độ độc tài ở Tuynisia, Ai Cập, Yemen.
Bên cạnh đó các cuộc chiến chống khủng bố Al Qadah, IS... cũng hết sức cam go. Còn nữa, đó là “chiến tranh ủy nhiệm” của các cánh tay nối dài Hezbollah, Hamas, Houthi là các nhóm vũ trang được Iran tài trợ nhằm chống lại Do Thái.
Điều ít người để ý, các cuộc nội chiến thậm chí còn tàn khốc hơn, xét về khoảng thời gian và số lượng người chết, so với chiến tranh giữa các quốc gia. Ở đây, đó là nội chiến ở Oman chống Dhofar ly khai (1963-1976); Li Băng (1975-1990) biến “Hòn ngọc Trung Đông” Beirut thành đống tro tàn và hàng triệu người phải di tản ra nước ngoài; Somalia kể từ sau cuộc chiến với Ethiopia 1977 đến nay vẫn bị cát cứ bởi các nhóm vũ trang; Yemen sau khi sau thống nhất thì lại lâm vào một cuộc nội chiến đẫm máu từ 2011 đến nay; Syria từ 2011 đến nay còn kinh hoàng hơn nữa với số thương vong lên đến hàng triệu người.
Một động thái gần đây có vẻ “bất ngờ” là Mỹ đã công nhận chính quyền mới tại Syria sau cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Tổng thống lâm thời Ahmed al-Sharaa. Ahmed al-Sharaa, 42 tuổi, sinh tại Saudi, lên 7 tuổi cùng gia đình hồi hương về Syria. Cuộc đời Ahmed khá phức tạp khi cậu trẻ sinh sống ở nhiều nơi tại Iraq, Li Băng và quê nhà Syria, từng tham gia Al Qadah và IS trước khi thành lập một tổ chức riêng HTS. Cuối năm 2024, Ahmed lãnh đạo cuộc tấn công của HTS chỉ trong 10 ngày đã lật đổ chính phủ thân Nga al Assad, trong bối cảnh chính quyền Putin mải bận rộn với cuộc chiến Ukrain. Lên cầm quyền, ông thi hành chính sách hòa giải dân tộc, muốn làm bạn với tất cả các nước.
Việc Mỹ và phương Tây công nhận chính quyền mới tại Syria đã mang đến một bước ngoặt chiến lược quan trọng. Từ nay, Syria không còn trạm trung chuyển của Iran để tiếp viện cho Hezbollah và Hamas. Mất chỗ dựa al Assat, liên minh Nga – Iran không còn phát huy tác dụng như là một đối trọng mạnh trong khu vực.
Chưa bao giờ, triển vọng hòa bình ở Trung Đông lại sáng sủa như hiện nay. Sở dĩ nhận định như vậy không chỉ vì biến cố ở Syria mà động lực chính là từ những diễn biến từ 5 năm trước của hòa ước Abraham mang lại.
Hòa ước Abraham (Abraham’s accords) bao gồm các thỏa thuận song phương ký kết giữa Israel với các nước Ả Rập, cụ thể với UAE (8/2020), Bahrain (9/2020), Sudan (10/2020), Morocco (12/2020). Trước đó Israel đã có Hiệp định hòa bình và bình thường hóa quan hệ với Ai Cập và Jordan. Do Thái đã “dự kiến” ký Thỏa ước Abraham với Saudi vào năm 2024 thì nổ ra xung đột với Hamas nên bị hoãn lại.
Câu hỏi là tại sao Thỏa ước lại mang tên Abraham, vậy Abraham là ai?
Tương truyền Tổ phụ Abraham sinh tại Cande, thuộc nam Iraq ngày nay và mất tại Hebron, thuộc Palestin bây giờ vào khoảng thế kỷ 20-18 trước công nguyên. Vậy tuổi của Abraham cũng ngang ngửa với kỷ nguyên Hùng Vương của Việt Nam.
Abraham là biểu tượng của Đức tin và Giao ước, theo như thần học của cả ba tôn giáo Do Thái giáo, Kito giáo và Hồi giáo. Abraham bị hiếm muộn, nhưng vẫn tin là mình sẽ có con. Cuối cùng hai người con của Abraham lần lượt ra đời, đó là Isaac, ông tổ của người Do Thái và Ibrahim, ông tổ của người Ả Rập.
Người Do Thái và người Ả Rập đều coi Abraham là tổ phụ, khi họ đánh nhau chắc hẳn sẽ làm Tổ phụ linh thiêng nơi chín suối, rất đau lòng, cũng không khác gì bài thơ “cẳng đậu đun hạt đậu” mà Tào Thực đọc cho Tào Phi nghe.
Khi đặt tên Abraham cho Thỏa ước, chính quyền Trump (nhiệm đầu) muốn nhắc nhở hai dân tộc có chung nguồn gốc, hà cớ gì cứ thù hằn mãi với nhau? Trên thực tế, quan hệ giữa Do Thái và Ả Rập không còn tình trạng chiến tranh. Trung Đông vẫn còn vấn đề Iran, hiện đang có những tiến triển trong đàm phán, hy vọng sớm có một thỏa thuận mới về vấn đề phi hạt nhân hóa, vướng mắc duy nhất cho việc cởi trói cấm vận và đi đến hòa bình.
Mình đã đến Israel hai lần, đã từng ngạc nhiên khi gặp tài xế taxi là người Ả Rập. Có đến trên 2 triệu người Ả Rập trong tổng số 9.5 triệu dân số của Israel đang chung sống hòa thuận với người Do Thái!

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2025

Cơn hồng thủy thuế sẽ đi về đâu?

 

Trong “ngày giải phóng”, Tổng thống Trump đã công bố bảng “phong thần” cho 180 quốc gia với những mức thuế gây choáng váng và chấn động thế giới. Chuyện đã lỡ, không thế quay ngược bánh xe thời gian, vấn đề bây giờ là xem “cơn hồng thủy” này sẽ đi đến đâu?
Lại nói chuyện thời Chiến quốc chỉ còn lại 7 nước, trong đó Tần mạnh nhất. Nếu đối chọi “song phương” thì nước Tần ăn gỏi các nước. Vì thế một ý tưởng liên kết các nước đã được nhen nhóm trong nhiều năm.
Tô Tẫn từ nước Yên là người rất dẻo mỏ. Ông đi thuyết khách để trình bày “dự án” hợp tung cho 6 vua và được hết thảy khen ngợi, ai cũng mời họ Tô làm Tể tướng. Kết quả Tô Tẫn làm Tể tướng chung cho cả 6 nước với trọng trách liên kết các nước yếu chống lại kẻ thù mạnh nhất là nước Tần.
Có hợp tung thì lại có liên hoành, đại khái là Tần mang lợi ích ra dụ từng nước nhằm phá vỡ khối đoàn kết và đã thành công. Chẳng mấy chốc hợp tung tan vỡ, Tô Tẫn tử trận và nhà Tần thâu tóm được thiên hạ.
Nếu các nước cùng nhau hợp sức chống lại kẻ mạnh nhất thì chắc chắn Mẽo toang. Đời thực không như mơ và ông Trump hẳn đã biết điều đó nên đã đưa ra biểu thuế rất chênh lệch. Các nước bị cấm vận như Nga, Bắc Hàn thì làm gì có hàng mà đánh thuế, với Canada và Mexico mới bị đánh 25% rồi thì không bị bổ sung nữa. Các nước “được” đánh thuế nhẹ đa phần là các nước nghèo ở Châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latin. Anh quốc được “thưởng” 10% vì đã ra khỏi EU trong khi EU bị 20%.
Trọng tâm của cơn hồng thủy thuế có thể coi là nhắm đến Trung Quốc và các nước đổi nhãn sân sau Đông Nam Á. Úc là nước “châu Á” ngon nhất chỉ có 10% nên Thủ tướng Albanesy nói không cần làm gì hết. Ba anh em Việt Nam Lào Campuchia dường như bị mức thuế nặng nhất, từ 46 đến 49%. Các “nhà ní nuận” cho rằng các tính toán của Mỹ không có cơ sở khoa học, chẳng hạn Việt Nam đâu có đánh thuế 90% vào hàng Mỹ.
Trong lĩnh vực kinh tế hay lĩnh vực khác, khi có mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế thì thực tế luôn luôn đúng, lý thuyết hoàn toàn sai. Ông Trump nêu ví dụ xe hơi Mỹ không xuất khẩu được là do bất công về thuế. Thuế nhập khẩu (import tax) chỉ mang tính danh nghĩa, sự thực sau khi bị thuế nhập thì còn hàng loạt thuế và phí chồng lên chiếc xe như thuế trị giá gia tăng VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môi trường, thuế lưu thông đường bộ, phí đăng ký, phí bảo hiểm, phí bảo dưỡng, phí phụ thu...làm giá đội lên vài lần.
Vì thế cách tính tỉ lệ trị giá thậm thủng mậu dịch chia cho tổng kim ngạch là thực tiễn và thực chất. Và đây là lý do các nước khó có cơ sở để “bật” lại Mỹ.
3 ngày sau ngày “phỏng dái”, các nước chưa công bố hành động trả đũa lại bảng thuế mà đều lên tiếng xin thương lượng song phương với Mỹ.
Có một ngoại lệ duy nhất là Trung Cộng đã tuyên bố đánh thuế 34%, có hiệu lực từ ngày 10/4, bằng mức áp thuế của Mỹ. Nếu cộng mức thuế đã công bố trước đó 20% thì mức thuế của riêng Trung Quốc là 54% chứ đâu phải 34%. Nhưng đây cũng có thế coi là lời hứa tranh cử của ông Trump đã được thực thi. Trung Quốc xuất siêu 68% vào Mỹ, Trump đòi đánh thuế 60% thì nay đã đạt 54%.
Nhiều người cho rằng thuế má điên loạn thế này là do tính cách thất thường của Trump mà quên rằng phương châm “Nước Mỹ trên hết” bằng chính sách thuế đã được dân Mỹ “phê chuẩn” và đây là lúc Trump trả ơn cử tri đã bầu cho mình bằng cách giữ đúng lời hứa.
Thuế má tăng sẽ làm giá cả tăng theo. Điều này không phải quá tệ nếu nhìn nhận rằng nó phần nào giúp thay đổi thói quen tiêu dùng quá xả láng của người Mỹ hết sức lãngphí, gây ô nhiễm môi trường. Thử nhìn sang người Nhật đã thay lối sống tối giản là một cách sống tốt, lành mạnh đáng noi theo.
Cá nhân mình cho rằng quyết định đánh thuế của chính phủ Mỹ đã được tính toán ký lưỡng, do đó việc thương lượng để hạ thấp hoặc hủy bỏ không đơn giản. Nhưng ông Trump và cộng sự cũng hiểu rằng thâm hụt mậu dịch khủng kéo dài nhiều năm không dễ gì san bằng trong một thời gian ngắn, cụ thể trong nhiệm kỳ chỉ còn 3 năm 9 tháng nữa. Kể cả điều này xảy ra thì Mỹ cũng không thể có đủ nhân lực để sản xuất một lượng hàng hóa khổng lồ thay thế nhập khẩu, hoặc khối hàng hóa xuất khẩu cân bằng với nhập khẩu.
Vậy ý định thực sự là gì? Không thể biết, nhưng cố đoán mò rằng chính quyền Mỹ có thể nhắm một số mục tiêu như:
1. Giảm nhập siêu, tăng sản xuất trong nước với cái đích việc làm và thịnh vượng
2. Ngăn chặn sự phát triển của Trung Quốc, đối thủ tiềm năng của Mỹ
3. Ép Ngân hàng dự trữ liên bang FED giảm lãi xuất nhằm tránh suy thoái. Sau khi FED giảm lãi suất thì cũng là lúc làm xong các thỏa thuận thương mại song phương, mức thuế được kéo xuống, mức đầu tư tăng, kinh tế Mỹ sẽ “bật lò so” để đạt điểm rơi thành tích vào thời gian bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Bầu cử giữa nhiệm kỳ sẽ diễn ra sau 19 tháng nữa, điều đó có nghĩa các cuộc thương lượng về giảm thuế suất sẽ kết thúc trong vòng 12-18 tháng tới.
Mọi người ý kiến thế nào?

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2025

Luận Tam quốc: Hậu chủ Lưu Thiện là người khôn hay người khờ?

 

Tam quốc diễn nghĩa trở nên sống động bởi tác giả La Quán Trung rất giỏi trong việc “đánh lừa” độc giả. Truyện mô tả Tào Tháo như một người gian ác nhưng nếu luận kỹ, cái ác của Tháo trong nhiều trường hợp như một điều bắt buộc. Như vụ giết cả nhà Lã Bá Sa, đó là phương án tốt nhất để Ngụy vương tương lai thoát khỏi nguy hiểm và mưu đồ việc lớn sau này, vì vậy Tháo không hề đáng ghét.
Về Lưu Thiện luôn bị coi là ngu si đần độn, ngay các nhà làm phim Tam Quốc cũng chọn một thằng béo phì đóng vai hậu chủ. Nhưng nếu đọc kỹ Tam Quốc thì không hẳn như vậy, những việc làm của Lưu Thiện đều có lý của nó, theo kiểu “thời thế thế thời phải thế”.
Lưu Bị hiếm hoi, 47 tuổi mới sinh được Lưu Thiện, hồi nhỏ gọi là A Đẩu. Trước đó, do sợ không có người thừa kế, Lưu Bị đã nhận Lưu Phong làm con nuôi và như thế, dù là con ruột Thiện không được coi là ngưới sẽ làm vua cho đến khi Phong bị bức tử chết chỉ vài năm trước khi Lưu Bị qua đời.
Trong Tam Quốc, nhưng ghi chép về Lưu Thiện không nhiều như các nhân vật chính. Tích đầu tiên là việc Triệu Vân đại náo trong trăm vạn quân Tào để cứu A Đẩu. Khi được Triệu Tử Long trao lại ấu chúa, Lưu Bị ném phịch xuống đất và nói: vì mày mà tao suýt nữa mất một hổ tướng!
Về sau Lưu Bị lấy em gái Tôn Quyền nhằm thắt chặt giao hảo giữa hai nhà Thục và Ngô. Nhưng hai nước vẫn tranh chấp mảnh đất Kinh Châu. Tôn Quyền muốn khởi binh nhưng lại vướng em gái nên cho người đến nói dối với Tôn phu nhân là mẹ ốm, phải về gấp. Lúc này Tôn thị mới về nhà chồng được khoảng 2 năm, được giao chăm sóc A Đẩu 5 tuổi vì mẹ ruột của cậu là Cam phu nhân đã mất.
Đang đêm, phu nhân cho người dong thuyền về đất Ngô, mang cả theo A Đẩu. Một lần nữa, Triệu Vân lại được lệnh đuổi theo để giành lại A Đẩu. Khi hai nước hòa hiếu trở lại, Tôn phu nhân quay về và sinh cho Lưu Bị hai người con.
Lưu Thiện lên ngôi khi mới 17 tuổi, Khổng Minh tiếp tục làm thừa tướng. Một điển tích thú vị ghi lại chuyện Khổng Minh mắng Hậu chủ vì ham chơi, bỏ bê việc nước. Điều kỳ lạ vua không bật lại mà nhận lỗi.
Trước đó, Khổng Minh là người phản đối việc Lưu Phong nối ngôi, chắc hẳn ông đã tính được trước là làm việc với Lưu Thiện dễ dàng hơn. Bị Thừa tướng mắng, Thiện đã biết lẽ phải để phục thiện, điều không phải ai ở tuổi teen cũng làm được.
Khổng Minh sáu lần ra Kỳ Sơn, hao binh tổn tướng rất nhiều và bản thân ông cũng suy sụp sức khỏe rồi qua đời. Hậu chủ từng cho rằng Bắc phạt sẽ không nên công trạng gì nhưng không ngăn cản. Có lẽ vì ông không muốn đi ngược ý nguyện của cha là muốn diệt Ngụy để khôi phục nhà Hán.
Sau khi Khổng Minh chết, Hậu chủ bãi bỏ danh hiệu Thừa tướng mà chia công việc thành hai chức Đại Tư mã và Đại tướng quân. Điều này thể hiện sự tôn trọng đối với Khổng Minh đồng thời tránh việc bị thao túng khi quyền hành Thừa tướng quá lớn, bao trùm cả chính trị lẫn quân sự.
Mọi người chê Lưu Thiện ưu ái hoạn quan nhưng thật ra đây là một góc nhìn thành kiến. Tất cả các nhân vật hoạn quan trong sử tàu đều bị coi là phản diện. Trong khi việc Hậu chủ dùng Hoàng Hạo không phải là lý do làm mất nước Thục mà do sai lầm tai hại về quân sự của Khương Duy.
Thời Tào mạt vận, quyền bính tập trung trong tay Tư Mã Chiêu. Chiêu có hai tướng tài là Chung Hội và Đặng Ngải. Lợi dụng việc Khương Duy đang mải đánh nhau với Chung Hội, Đặng Ngải đi tắt theo con đường núi Âm Bình, tiến thẳng về Thành Đô.
Lúc này Hậu Chủ Lưu Thiện đã không chọn chiến đấu đến cùng mà nhanh chóng đầu hàng. Mọi người có quyền phán xét, nhưng với hoàn cảnh Thành Đô quân ít, không có tướng giỏi đủ sức đương đầu với Đặng Ngải thì đây là giải pháp hợp lý, giữ có kinh thành không bị tàn phá, hoàng gia và các quan đều được bảo toàn.
Lưu Thiện và các quan bị giải sang đất Ngụy. Tư Mã Chiêu cho mở tiệc chiêu đãi, đến tuồng theo điệu múa hát của người Thục thì các quan tướng đều cảm thấy cảm động rưng rưng. Bất thình lình, Tư Mã Chiêu hỏi Lưu Thiện: ông có nhớ nước Thục không? Thiện đáp: ở đây vui lắm, tôi không nhớ nước Thục nữa! Câu nói “giả ngu” từng bị nhiều người chê trách nhưng thực tế đã là cách Hậu chủ giữ được tính mạng.
Trong khi đó, Khương Duy đã lợi dụng sự hiềm khích giữa Chung Hội và Đặng Ngải, giả bộ đứng về phe Chung Hội để xúi Hội làm phản với mưu đồ khôi phục nước Thục. Lưu Thiện có vẻ không quan tâm và không muốn dính vô, chỉ tội Thái tử Lưu Tuyền “ngựa non háu đá” nên đã chết theo Khương Duy khi vụ việc vỡ lở và thất bại.
Cần phải thấy rằng Tư Mã Chiêu gian hùng không kém gì Tào Tháo, sẽ không bao giờ tin Chung Hội và Đặng Ngải. Chắc chắn Chiêu có nhiều chiêu để hóa giải hai đại tướng tài cao và nhiều tham vọng này.
Khương Duy không hiểu rằng việc chống Tư Mã Chiêu lúc này là bất khả thi, trong khi Lưu Thiện chủ trương nhẫn nhục để chờ thời. Tiếc rằng Trời không chiều lòng người, Hậu chủ đành chịu chết già trên đất Ngụy.
“Con của hổ thì không đến nỗi chó”. So sánh ba nhà lập tam quốc thì thấy con Tào Tháo là Tào Phi tàn bạo, làm mất lòng người, hậu quả nhãn tiền là triều Tào bị họ Tư Mã thâu tóm quyền bính rồi mất ngôi. Các con của Tôn Quyền tranh giành ngôi báu làm nhà Ngô suy yếu rồi cũng bị nhà Tấn, sau khi cướp ngôi Ngụy thôn tính.
Lưu Thiện, con Lưu Bị làm vua 41 năm một cách bền vững, không có lỗi khi để mất nước, rõ ràng không phải là một người tầm thường.

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2024

Trời sinh voi, trời sinh cỏ

 

Mình có bạn mới lấy được quốc tịch Nhật nói chuyện rằng nhà vùng nông thôn bên đó rẻ quá, có nên lấy một căn? Nhà ở quê thì không thể ở, mua chẳng qua để chờ tăng giá thôi.
Suy nghĩ thật của mình là dân số Nhật đang có xu hướng giảm và lão hóa. Thanh niên ra thành thị, ông bà già ở lại rồi dần dần chết, dẫn đến tình trạng rất nhiều ngôi nhà bỏ hoang.
Bất động sản là lĩnh vực tạo nhiều việc làm, lại mang đến con số đẹp về tăng trưởng nên các nước đều có chính sách đầu tư mạnh vào lĩnh vực này. Địa ốc cũng là yếu tố quan trọng mang lại sự "thần kỳ" cho kinh tế Nhật Bản trước đây, mà nay là nguyên nhân của "thần sầu".
Địa ốc Nhật không thể cất cánh trở lại vì dân số giảm. Nhật đang nhận dân nhập cư từ các nước. Hiện nay Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc để trở thành sắc dân ngoại đông nhất tại Nhật, đồng thời cũng về nhất về tỉ lệ tội phạm.
Ai đã sang xứ anh đào thì đều thấy đây là một xã hội rất nề nếp, vì thế dù thiếu nhân công, họ vẫn không thể để di dân ào ào như sôi quá hoại xã hội tốt đẹp đó, đồng thời chấp nhận một nền kinh tế "đi ngang", không có tăng trưởng.
Bên cạnh Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng bị sụt giảm dân số và đó là lý do chính làm cho thị trường địa ốc các nước này rớt theo.
"Chỉ có người sinh sôi ngày càng đông, chứ nhà đất có đẻ ra được đâu!". Câu này không còn đúng, thậm chí ngược lại, có nơi người giảm, nhà đất tiếp tục ra giàn.
Thật ra tỉ lệ giảm dân số bên Đông Âu còn mạnh hơn Đông Á. Các nước cộng sản cũ như Hung, Bun, Ru, Nam tư cũng có tỉ suất sinh cực thấp. Thêm vào đó, từ khi gia nhập khối EU, người dân các nước này đã ồ ạt chạy sang Tây Âu làm việc và ở lại đó luôn.
Các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc cũng có tỉ suất sinh thấp nhưng là các quốc gia thâu nhận di dân nên dân số vẫn tăng đều đều.
Dân số tăng nhanh nhất là các nước vùng Vịnh như Saudi, UEA, Qatar vì vừa đẻ nhiều vừa nhận di dân. Vì thế họ xây dựng nhiều mà thị trường bất động sản vẫn tốt.
Tại sao giá nhà đất Trung Quốc giảm mà Việt Nam thì không? Đơn giản, dân số Trung Quốc đã đi xuống, còn Việt Nam thì chưa.
Còn Úc thì sao? Dân số Úc đang tăng và sẽ tăng nên thị trường của miền đất hứa là "bền vững"