Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

Kết bạn kiểu Úc

 

Với một người đã ra hải ngoại 32 năm, trong đó sống ở Úc tổng cộng 20 năm như mình thì đã đủ tư cách viết về vấn đề kết bạn tại Úc hay chưa? Mình nghĩ là chưa, những điều nói ra đây chỉ để trao đổi thôi chứ không phải “chốt hạ”.
Hồi mới sang Úc năm 1994, hổm mình ra đường vào buổi sáng sớm để đi bỏ thư ở thùng thư bưu điện, gặp một bà Tây sồn sồn đã chào mình G’morning. Lúc đó mình nghĩ chắc tại mình đẹp trai quá nên bả mới chào.
Không phải đâu, nếu lúc đó biết tiếng Anh để bắt chuyện thì họ cũng sẵn sàng nói chuyện với mình một cách thân mật như một người bạn lâu ngày mới gặp. Nhưng chỉ có thế thôi, đừng tưởng bở.
Trong phép xã giao của người Úc, có việc chào hỏi cả những người không quen biết. Họ cũng rẩt dễ bắt chuyện, nhưng để kết bạn lại là vấn đề khác, sẽ không dễ dàng.
Trong câu chuyện, người Úc rất dễ "ba phải", nói gì cũng chịu. Ví dụ khi bạn bảo "hôm nay mát quá" thì họ sẽ gật gù ngay, chứ không có chuyện nhảy bổ vào: nóng thế này mà kêu mát, ông chẳng biết gì cả. Tất nhiên, nếu bạn nói đụng chạm đến quyền lợi thì không còn chuyện vô thưởng vô phạt nữa rồi.
Bên Úc nhìn chung mọi người ăn vận khá đơn giản, thậm chí không ít phụ nữ còn không trang điểm khi ra ngoài. Nhưng không nên nghĩ vì họ quá nghèo, phải lo miếng ăn thì hơi đâu mà lo hình thức bề ngoài.
Úc có 57 tỉ phú, và nếu tính cả những người đang làm ăn tại tại Úc thì con số lên dến 178 người. Những người có tài sản cỡ trăm triệu, chục triệu (trong đó có cả nhiều người Việt) thì đông lắm. Thu nhập bình quân đầu người của Úc cao gấp mười lần Việt nam.
Vừa rồi, mình có xem một bộ phim tài liệu trên tivi về Sydney thời thập niên 1960s, cho thấy người Úc giai đoạn đó khá cầu kỳ, đàn ông mặc vest, đi giầy đen, phụ nữ thì phi dê óng mượt. So với bây giờ thì một trời một vực. Lý do như nói ở trên, không phải vì họ nghèo, chẳng qua là thích giản dị và thoải mái thôi.
Họ không còn quan niệm chưng mấy cái quần áo đẹp, đồ hiệu để chứng minh đẳng cấp. Thật ra trong 32 năm qua, giá nhà đất tăng 10 lần, thực phẩm tăng giá 5 lần, riêng giá quần áo thì không tăng, nếu không muốn nói là giảm. Hồi xưa một cái sơ mi đồ hiệu $100 thì bây giờ vẫn thế, thậm chí ít hơn.
Quay lại chủ đề chính, vì sao kết bạn với người Úc là khó? Đơn giản vì họ không muốn và không cần. Nhiều người Việt giỏi tiếng Anh, sang Úc lâu năm mà làm gì có bạn Tây, quanh quẩn vẫn chỉ mấy ông ăn rau muống chơi và nhậu với nhau.
Mình đề ý hai cháu nhà mình, bạn bè của chúng chủ yếu từ thời học phổ thông. Một trường tiểu học của Úc thông thường mỗi năm có khoảng 100 cháu theo học, theo quy định sĩ số tối đã mỗi lớp 25; còn trường trung học thì khoảng 150, mỗi lớp không quá 30. Ở các trường tư thì con số chỉ còn phân nửa, mỗi lớp khoảng 10-15 em.
Để tất cả mọi người đều là “bạn cùng lớp” thì các trường đều có chính sách xáo trộn học sinh vào mỗi năm học. Như vậy sau 7 năm tiểu học và 6 năm trung học thì tất cả các cháu hầu như đều đã từng học cùng lớp với nhau ít nhất 1 năm, và đều có cơ hội kết bạn giao lưu với nhau.
Có thể hiểu rằng người Úc có “nguồn cung” bạn bè rất dồi dào từ thời phổ thông. Trên thực tế các mối quan hệ này duy trì rất lâu trong suốt cuộc đời và họ không có nhu cầu kết bạn thêm.
Dưới mái nhà Úc, giới trẻ không phân biệt nguồn gốc đã và đang thương yêu, gắn bó với nhau mang đến những hình ảnh đẹp. Khác màu da, nhưng chung văn hóa là một chuyện; cùng màu da mà đói nghịch thói quen, lối sống, suy nghĩ và tư tưởng thì vấn đề lại khác.
Nói như thế không cò nghĩa là bạn không thể kết bạn tâm giao với người Úc. Vấn đề là bạn có thể tự thay đổi mình, tiếp thu cái mới để thích nghi với cuộc sống Úc và lối sống Úc hay không?
Có người chê mấy thằng Tây nó mù hay sao, cái con xấu và già thế mà nó vẫn lấy. Chẳng qua là bạn chưa hiểu, sự đồng cảm, thương cảm với nhau thậm chí còn quý và bền chặt hơn cả sự hấp dẫn về thể xác.
Cá nhân mình là người sang Úc định cư khá muộn, chẳng nghề ngỗng gì, tiếng Anh phọt phẹt nhưng mình đã từng được “ngồi” chém gió với cả CEO có mức lương vài triệu/ năm, trí tuệ cao vòi vọi. Phét lác?
Không dám đâu, chẳng qua họ là cha mẹ của bạn các cháu nhà mình. Con mình chơi với cả con nhà giàu, tầng lớp trên. Cho nên cánh cửa ở đây lại là “giàu vì bạn, sang vì con”

Góc nhìn: Mọi nẻo đường đều dẫn đến thành Rome

 

Năng lượng từ lâu đã không còn là một hàng hóa thuần túy mà đã trở thành vũ khí sắc bén nhất trên bàn cờ địa chính trị toàn cầu. Ba cuộc xung đột năng lượng đang diễn ra trên thế giới thể hiện rõ cách các quốc gia dùng năng lượng để chèn ép, làm suy yếu hoặc vây ráp đối thủ.
1. Mỹ siết chặt dòng dầu Iran chảy sang Trung Quốc
Nhiều năm qua, Trung Quốc là khách hàng tiêu thụ dầu lớn nhất của Iran. Tehran dựa vào nguồn thu này để duy trì nền kinh tế dưới các lệnh trừng phạt, còn các nhà máy lọc dầu tư nhân ("teapot refineries") của Trung Quốc hưởng lợi nhờ nguồn cung giá rẻ.
Để ngăn chặn dòng chảy này, Mỹ không chỉ cấm vận trực tiếp mà còn tung ra các biện pháp trừng phạt thứ cấp (secondary sanctions) vô cùng gắt gao:
- Đánh vào "Đội tàu bóng tối" (Shadow Fleet): Mỹ và các đồng minh liên tục đưa vào danh sách đen hàng loạt tàu dầu ngụy trang, đổi cờ, hoặc tắt thiết bị định vị nhằm che giấu nguồn gốc dầu Iran.
- Triệt hạ mạng lưới tài chính trung gian: Bộ Tài chính Mỹ trừng phạt hàng loạt công ty vỏ bọc tại Hồng Kông, UAE và Trung Quốc tham gia rửa tiền, thanh toán và vận chuyển dầu cho Iran.
-Chặn các điểm chuyển tải: Mỹ tăng cường giám sát các vùng biển quốc tế (như vùng biển ngoài khơi Malaysia) – nơi dầu Iran thường được sang mạn (ship-to-ship) để nhãn mác bị xóa mờ trước khi cập cảng Trung Quốc.
Bằng cách chặn đứng kênh thanh toán USD, giáng đòn vào logistics và đe dọa trừng phạt các tổ chức tài chính Trung Quốc, Washington buộc Bắc Kinh phải cân nhắc giữa lợi ích từ dầu giá rẻ và rủi ro bị cô lập khỏi hệ thống tài chính toàn cầu.
2. Điều kỳ lạ, khi chuyển từ thế phòng ngự sang tấn công, Ukraine dường như không chú trọng giành lại lãnh thổ mà chỉ thích tập trung đánh phá hạ tầng năng lượng của Nga.
Khác với các đòn trừng phạt kinh tế của phương Tây, chiến lược của Ukraine là tấn công vật lý trực tiếp bằng máy bay không người lái (UAV) tầm xa vào sâu trong lãnh thổ Nga.
Mục tiêu cốt lõi của Kyiv tập trung vào các mắt xích yếu nhất của ngành dầu khí Nga:
- Nhà máy lọc dầu (Refineries): Ukraine không ưu tiên đánh vào giếng dầu thô mà nhắm thẳng vào các tháp chưng cất phức tạp tại các nhà máy lọc dầu lớn (như ở Moscow, Tatarstan, Omsk). Đây là những thiết bị đắt đỏ, khó thay thế do Nga đang chịu lệnh cấm vận công nghệ từ phương Tây.
- Kho chứa và cảng xuất khẩu: Các kho nhiên liệu lớn và cảng biển quan trọng như Novorossiysk bị tấn công liên tục nhằm làm gián đoạn chuỗi cung ứng dầu xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ.
3. Venezuela dừng cung cấp dầu giá rẻ cho Trung Quốc
Trong quá khứ, Venezuela từng là nguồn cung dầu thô nặng giá rẻ quan trọng cho Trung Quốc, phần lớn dùng để gán nợ cho các khoản vay hàng chục tỷ USD từ Bắc Kinh. Tuy nhiên, cục diện này đã đổi khác.
-Sự can thiệp và kiểm soát của Mỹ: Washington áp đặt cơ chế kiểm soát gắt gao và cấp phép hạn chế (thông qua các tập đoàn như Chevron hoặc các giấy phép của OFAC) đối với hoạt động xuất khẩu dầu của Venezuela.
- Tái định hướng dòng chảy: Dầu thô của Venezuela thay vì chảy ngầm qua các trung gian thiếu minh bạch sang các nhà máy "teapot" Trung Quốc với giá chiết khấu sâu, nay được nắn dòng trở lại các thị trường chính thống có giấy phép (đặc biệt là thị trường Mỹ).
- Thay đổi cơ chế thanh toán: Sự siết chặt từ Mỹ khiến Caracas không còn dễ dàng duy trì các thỏa thuận đổi dầu lấy nợ hay bán dầu giảm giá lén lút như trước, làm cắt đứt nguồn dầu siêu rẻ mà Trung Quốc từng thu lợi.
Như vậy, từ Trung Đông, Đông Âu cho đến Mỹ Latinh, dầu mỏ đã trở thành tâm điểm của các cuộc xung đột địa chính trị. Việc Mỹ siết chặt Iran và Venezuela đã thu hẹp đáng kể nguồn năng lượng giá rẻ của Trung Quốc, trong khi các cuộc tập kích của Ukraine đang làm suy yếu ngành năng lượng của Nga.
“Mọi nẻo đường đều dẫn tới thành Rome” (All roads lead to Rome), theo nghĩa đen là hệ thống đường sá đồ sộ của đế quốc La Mã đều hướng về một địa chỉ.
Nhưng hệ thống ngày nay bao trùm toàn thế giới cũng hướng về một mục tiêu duy nhất: bao vây Trung Cộng, đối thủ địa chính trị lớn nhất của Mỹ.
Theo tin tức mới nhất, Mỹ đã thuyết phục được các nước Anh, Ý, Đức... ủng hộ cuộc chiến của Mỹ đang trực tiếp điều hành tại Iran. Cuộc chiến này, theo mình không hẳn nhắm đến việc giải phóng hoàn toàn Iran mà chỉ nhằm triệt hạ nguồn dầu giá rẻ của Trung Cộng.
Điều này chắc hẳn đã làm Bắc Kinh nổi giận, dẫn đến những hành động gây hấn trên biển Hoa Bắc và Hoa Đông mấy ngày qua nhằm vào các đồng minh Philippines và Nhật của Mỹ.
Việt Nam đã tái hiện nhập siêu, trong đó nhập siêu với Trung Quốc tiếp tục xu hướng leo cao. Thiển nghĩ, chắc chắn Mỹ muốn Việt Nam phải làm gì đó giải quyết việc này trước khi họ công nhận nền kinh tế thị trường cho chúng ta.
Ảnh: theo ý tưởng của Rùa tiên sinh, một số con bạc vào sòng bài có thể thắng một số ván, thậm chí thắng cả buổi nhưng nhà cái vẫn không sập tiệm. Sóng bài sẽ vẫn tiếp tục mở rộng, ngày và đêm.

Kỷ nguyên mới của Peru với tân nữ tổng thống

 

Peru, vùng đất của những đỉnh Andes hùng vĩ và tàn tích Machu Picchu huyền thoại, đang trải qua những biến động chính trị sâu sắc. Giữa bối cảnh đó, sự trỗi dậy của các nhà lãnh đạo gốc Á và câu chuyện giao thoa văn hóa xuyên đại dương đã tạo nên một Peru độc đáo nhất nhì khu vực Mỹ Latinh.
Cái tên Keiko Fujimori không hề xa lạ trên chính trường Peru, nhưng việc bà đảm nhận cương vị Tân Tổng thống Peru đánh dấu một bước ngoặt lịch sử lớn. Là con gái lớn của cựu Tổng thống độc tài đầy tranh cãi Alberto Fujimori, Keiko đã dành hơn hai thập kỷ để xây dựng đế chế chính trị của riêng mình thông qua đảng Lực lượng Nhân dân (Fuerza Popular).
Sinh năm 1975, Keiko từng đảm nhận vai trò Đệ nhất Phu nhân Peru ở tuổi 19 sau khi cha mẹ ly hôn. Từng ba lần lọt vào vòng hai của các kỳ bầu cử tổng thống trước đó và chịu không ít cáo buộc pháp lý, sự kiên trì của bà cuối cùng đã được đền đáp. Trên cương vị tân lãnh đạo, Keiko đối mặt với thách thức to lớn: hàn gắn một quốc gia đang bị chia rẽ sâu sắc, phục hồi kinh tế và chứng minh rằng di sản của chủ nghĩa Fujimori (Fujimorismo) có thể mang lại sự ổn định và dân chủ cho Peru.
Để hiểu được bối cảnh lãnh đạo của Keiko Fujimori, cần nhìn lại bức tranh toàn cảnh về đất nước Peru.
Peru là cái nôi của đế chế Inca cổ đại – đế chế lớn nhất thời kỳ tiền Colombo. Thế kỷ 16, thực dân Tây Ban Nha chinh phục vùng đất này, biến Lima thành thủ đô của Phó vương quốc Peru giàu có. Quốc gia này chính thức giành độc lập vào năm 1821 dưới sự dẫn dắt của José de San Martín và Simón Bolívar.
Peru là một "nồi lẩu thập cẩm" về nhân chủng học. Người bản địa (chủ yếu là người Quechua và Aymara) chiếm khoảng 45% dân số. Người lai (Mestizo - giữa người châu Âu và bản địa) chiếm khoảng 37%. Phần còn lại là người gốc Âu, gốc Phi và đặc biệt là cộng đồng gốc Á (Trung Quốc và Nhật Bản) – nhóm chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng giữ quyền lực kinh tế, văn hóa lớn.
Hệ thống chính trị Peru theo chế độ Cộng hòa đại nghị với quyền lực tập trung lớn vào Tổng thống. Tuy nhiên, chính trường nước này nổi tiếng bất ổn với các cuộc khủng hoảng hiến pháp liên tục và tình trạng tham nhũng khiến nhiều cựu tổng thống phải vào tù hoặc bị phế truất trong những năm gần đây.
Peru là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất khu vực nhờ tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Quốc gia này đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu đồng, vàng và kẽm. Bên cạnh khai khoáng, ngành nông nghiệp xuất khẩu (măng tây, quả bơ, việt quất) và du lịch cũng là những trụ cột kinh tế chính.
Một trong những mối liên kết đặc biệt nhất giữa Peru và châu Á chính là cộng đồng Nikkei (người Peru gốc Nhật). Đây là cộng đồng gốc Nhật lớn thứ hai tại Nam Mỹ, chỉ sau Brazil.
Lịch sử của cộng đồng này bắt đầu từ ngày 3 tháng 4 năm 1899, khi con tàu Sakura Maru cập cảng Callao mang theo 790 người nhập cư Nhật Bản đầu tiên. Họ đến theo các hợp đồng lao động để làm việc tại các đồn điền đường và bông dọc bờ biển Peru.
Dù đối mặt với rào cản ngôn ngữ, sự kỳ thị và đỉnh điểm là làn sóng bài Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai (khi nhiều người bị tịch thu tài sản và trục xuất sang Mỹ), người Nhật tại Peru vẫn kiên cường bám trụ. Họ chuyển dần từ nông thôn ra thành thị, mở các cửa hàng nhỏ, tiệm giặt là, tiệm tóc và dần khẳng định vị thế vững chắc nhờ tinh thần kỷ luật và trung thực.
Qua hơn 120 năm, cộng đồng Nikkei (hiện có khoảng 100.000 người) đã hòa nhập sâu sắc và để lại những dấu ấn không thể phai mờ:
Đỉnh cao là năm 1990, khi ông Alberto Fujimori đắc cử Tổng thống, trở thành người gốc Nhật đầu tiên lãnh đạo một quốc gia ngoài nước Nhật. Dù nhiệm kỳ của ông kết thúc trong tranh cãi, việc con gái ông – Keiko Fujimori – trở thành tân tổng thống vào năm 2026 đã tái khẳng định tầm ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ của cộng đồng này.
Người gốc Nhật nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong các tập đoàn tài chính, y tế và kỹ thuật tại Peru. Tổ chức Asociación Peruano Japonesa (APJ) là một trong những định chế văn hóa - xã hội uy tín nhất cả nước.
Ẩm thực Nikkei Cuisine cũng là thành tựu văn hóa nổi bật. Sự kết hợp giữa kỹ thuật chế biến hải sản tinh tế của Nhật Bản và các gia vị cay nồng (ớt ají, chanh) của Peru đã tạo nên dòng ẩm thực Nikkei nổi tiếng toàn cầu. Những món ăn như Ceviche kiểu mới hay Tiradito chính là biểu tượng cho sự hòa hợp hoàn hảo giữa hai dân tộc.
Sự kiện Keiko Fujimori bước lên vũ đài quyền lực cao nhất, nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước này không chỉ là câu chuyện của riêng một cá nhân hay một gia tộc, mà nó còn phản ánh tính chất đa dạng, bao dung và đầy biến động của đất nước Peru – nơi một cộng đồng nhập cư từ cách nửa vòng trái đất có thể tạo nên những xoay chuyển lịch sử vĩ đại.

Nhìn lại quá trình và nguyên nhân phát triển của các nước Vùng Vịnh

 

Khối Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) bao gồm 6 quốc gia: Saudi Arabia, UAE, Qatar, Kuwait, Oman và Bahrain. Từ những bộ tộc du mục trên sa mạc cằn cỗi, sự phát triển của GCC trong nửa thế kỷ qua là một trong những câu chuyện chuyển mình kinh tế kỳ vĩ nhất lịch sử hiện đại, biến nơi đây thành trung tâm tài chính và địa chính trị toàn cầu.
Quá trình phát triển và số liệu tăng trưởng GDP
Quá trình phát triển của GCC có thể chia thành ba giai đoạn chính:
Kỷ nguyên bùng nổ dầu mỏ (1970–2000): Sau cú sốc giá dầu năm 1973, dòng tiền petrodollar khổng lồ đổ về giúp các nước GCC xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại từ con số không. GDP toàn khối tăng trưởng phi mã, bình quân trên 6% mỗi năm trong giai đoạn này.
Giai đoạn tái cấu trúc và đô thị hóa (2000–2015): Nhận ra sự nguy hiểm của việc phụ thuộc vào "vàng đen", các nước bắt đầu rót tiền vào các quỹ chủ quyền (SWF) và quy hoạch các siêu đô thị như Dubai hay Doha thành trung tâm tài chính, du lịch thế giới.
Tốc lực đa dạng hóa (2015–đến nay): Tính đến giai đoạn hiện tại, quy mô kinh tế toàn khối GCC đã đạt khoảng 2.300 tỷ USD, xếp thứ 9 toàn cầu. Sự chuyển dịch diễn ra vô cùng ấn tượng: tốc độ tăng trưởng GDP thực tế toàn khối đạt mức 5,2%, với động lực chính không còn là dầu mỏ mà đến từ các lĩnh vực phi dầu mỏ (chiếm tới 73,2% tổng GDP toàn khối).
Vì sao UAE và Qatar phát triển tốt hơn Saudi Arabia?
Dù Saudi Arabia có quy mô kinh tế lớn nhất khối (khoảng 1.389 tỷ USD), nhưng xét về hiệu quả phát triển, chất lượng sống và mức độ thịnh vượng cá nhân, hai quốc gia nhỏ là UAE và Qatar lại vượt trội hoàn toàn. Sự khác biệt này đến từ ba yếu tố cốt lõi:
1. Lợi thế quy mô dân số và GDP đầu người
Qatar (2,8 triệu dân) và UAE (khoảng 9,5 triệu dân nhưng hơn 85% là lao động nước ngoài) có quy mô dân số bản địa cực kỳ nhỏ so với Saudi Arabia (gần 37 triệu dân). Do đó, dòng tiền từ tài nguyên được cô đặc và chia đều hơn. GDP đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) của Qatar dẫn đầu khu vực với khoảng 112.000 USD, UAE đạt gần 88.000 USD, trong khi Saudi Arabia chỉ dừng lại ở mức 78.000 USD (số liệu năm nay).
2. Xuất phát điểm và tư duy mở cửa sớm hơn
Dubai (UAE) đã bắt đầu chiến lược đa dạng hóa kinh tế từ những năm 1980 khi dự báo nguồn dầu mỏ của họ sẽ cạn kiệt trước Abu Dhabi. Họ biến mình thành một "hub" (trung tâm) trung chuyển logistics, hàng không (Emirates) và tài chính tự do mở cửa cho thế giới. Qatar cũng đi trước một bước khi tập trung vào khí hóa lỏng (LNG) từ những năm 1990 để không bị phụ thuộc vào thị trường dầu thô của OPEC. Trái lại, Saudi Arabia đóng cửa và duy trì nền thần quyền bảo thủ suốt nhiều thập kỷ, chỉ mới thực sự bắt đầu mở cửa từ năm 2016 dưới thời Thái tử Mohammed bin Salman.
Tiêu điểm: Tầm nhìn 2030 của Saudi Arabia có thực sự "thất bại"?
Nói Tầm nhìn 2030 (Vision 2030) của Saudi Arabia "thất bại hoàn toàn" là chưa chính xác, nhưng nếu nói dự án này vỡ mộng và phải tái cấu trúc sâu sắc vì những mục tiêu phi thực tế thì hoàn toàn đúng.
Chính phủ Saudi Arabia vừa qua đã phải ra quyết định hoãn, hủy hoặc thu hẹp hàng loạt siêu dự án (Megaprojects) cốt lõi của Tầm nhìn 2030. Nguyên nhân chính bao gồm:
Cơn ác mộng tài chính của Siêu đô thị NEOM: Dự án thành phố thẳng "The Line" dài 170km băng qua sa mạc, từng được kỳ vọng ngốn 500 tỷ USD (toàn bộ siêu dự án NEOM ước tính lên tới 4.500 tỷ USD), đã buộc phải tạm dừng thi công vô thời hạn đối với các phần mở rộng lớn. Mục tiêu đón 1,5 triệu dân vào năm 2030 bị hạ xuống mức không tưởng: chỉ còn chưa đầy 100.000 dân. khu nghỉ dưỡng trượt tuyết Trojena cũng bị rút quyền đăng cử Á vận hội Mùa đông 2029.
Giá dầu sụt giảm và gánh nặng ngân sách: Saudi Arabia cần giá dầu ở mức trên 80-85 USD/thùng để nuôi bộ máy và các siêu dự án. Tuy nhiên, giá dầu thế giới sụt giảm mạnh (chỉ quanh mức 60 USD/thùng) cộng thêm chi phí an ninh quốc phòng gia tăng khiến thâm hụt ngân sách của Riyadh đạt mức kỷ lục.
Sự thiếu hụt dòng vốn FDI: Saudi Arabia kỳ vọng dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ đổ vào để cùng gánh vác Vision 2030. Nhưng các nhà đầu tư phương Tây tỏ ra rất thận trọng trước tính khả thi của các dự án viễn tưởng này, buộc Quỹ chủ quyền PIF của Saudi phải tự gánh tiến độ, dẫn đến tình trạng cạn kiệt thanh khoản nghiêm trọng.
Kết luận: Trong khi UAE và Qatar phát triển bền vững nhờ chiến lược "đi chậm mà chắc", xây dựng từ gốc rễ dịch vụ, hạ tầng mềm và thể chế mở, thì Saudi Arabia lại vấp ngã vì tham vọng đốt cháy giai đoạn bằng những siêu dự án mang tính "đánh bóng thương hiệu" (Ego projects). Riyadh hiện đang phải học tập chính hai người hàng xóm nhỏ của mình: hạ bớt sự kiêu ngạo, thu hẹp quy mô viễn tưởng để tập trung vào những thứ thực tế hơn như hạ tầng số, cảng biển và trung tâm dữ liệu AI.
(Theo Gimini)
Lời bình: trong các năm 2001-2011, mình được chứng kiến tận mắt nhưng đổi thay kỳ diệu của UAE. Đó thực sự là một công trường xây dựng khổng lồ, những "đàn chim sắt" mọc lên khắp mọi nơi là những chiếc cần cầu để xây lên những tòa nhà cao cao mãi.
Tốc độ tăng trưởng của lúc này thường xuyên hai con số, như Qatar, nơi mình đã từng đến 3 lần có năm GDP tăng 30%.
Có một điều mà báo chí giấu đi đó là sự dấu mặt của đội ngũ cố vấn phương Tây đã đóng góp "chất xám" hết sức quan trọng, nếu không, theo quan điểm cá nhân, sẽ chẳng có sự vươn mình nào cả.
Từ đó cho thấy "yếu tố bên ngoài", cụ thể là địa chính trị thế giới, đóng vai trò mấu chốt cho sự thay đổi cho sự phát triển chung cũng như ở từng nước cá biệt.